đặt vấn đề và góc độ xem xét khác nhau mà có những cách hiểu khác nhau về TNHS. Tuy nhiên, các quan điểm đều thống nhất ở những nội dung sau: 1. TNHS là dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất, là hậu qua của việc thực hiện tội phạm; 2. TNHS là trách nhiệm cá nhân; 3.
Người bị truy cứu TNHS có nguy cơ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi mà hình phạt là sự thể hiện tập trung và chủ yếu; 4. Việc buộc người phạm tội phải chịu TNHS được tiến hành theo thủ tục tố tụng hình sự. Nguyên nhân của việc tồn tại các quan điểm khác nhau và một phần nội hàm chung về TNHS vi các học giả đều xuất phát từ luận điểm: TNHS là một dạng “trách nhiệm pháp lý”. Mà trách nhiệm pháp lý lại khởi nguồn từ “trách nhiệm”.
Trong khi đó, thuật ngữ: “trách nhiệm” có hai cách hiểu cơ bản khác nhau: nghĩa chủ động - tích cực và bị động - tiêu cực, phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thé [79, tr 394- 395]. Ở nghĩa tích cực, “trách nhiệm” chỉ chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn mà Nhà nước trao cho một số chủ thể nhất định, theo đó họ có thể chủ động thực hiện. Ví dụ: trách nhiệm đấu tranh phòng và chống tội phạm; trách nhiệm của cán bộ, lãnh đạo. “Trách nhiệm” hiểu theo nghĩa bị động, hàm chứa những hậu quả bất lợi đối với các chủ thể bị áp dụng; xảy ra khi có sự vi phạm pháp luật hoặc thoả thuận hợp đồng.
Ví dụ: trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trách nhiệm hành chính. Trong lĩnh vực tư pháp - hình sự, hoạt động áp dụng pháp luật - truy cứu TNHS của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm xác định chế tài luật hình sự đối với chủ thể vi phạm pháp luật (chủ thể của tội phạm) được gọi là hoạt động áp dụng TNHS hay thực hiện TNHS. Việc người phạm tội phải chịu những hậu quả bất lợi gọi là chịu TNHS hay thi hành TNHS [78, tr 7]. Trong BLHS năm 1985, năm 1999; các văn bản hướng dân thi hành và vtrong hoạt động tố tụng, thuật ngữ TNHS thường đi liền với một số từ ngữ khác cho phép xác định phạm vi nghĩa sử dụng, như: phải chịu TNHS, bị truy cứu TNHS, tình tiết tang nang TNHS, tình tiết giảm nhẹ TNHS, miễn TNHS 12 .VớI đa số các trường hợp, TNHS được dùng theo nghĩa bị động - nói tới hậu qua bất lợi mà người phạm tội có nguy cơ phải gánh chịu, sự phản ứng mang tính chất trừng phạt mà Nhà nước áp dụng đối với họ.
Đây cũng là nghĩa mà luận văn sử dụng. Ở góc độ này, TNHS có các đặc điểm cơ bản sau: 1. TNHS là loại trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất Đều là hậu quả, chế tài pháp lý áp dụng đối với người đã có hành vi vi phạm pháp luật. Song so với các dạng trách nhiệm pháp lý khác (trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm kỷ luật) thì TNHS nghiêm khắc hơn rất nhiều và chỉ những chủ thể được quyền nhân danh Nhà nước mới có thể áp dụng.
Khi phải chịu những dạng trách nhiệm pháp lý khác, người vi phạm có thể bị khiển trách, cảnh cáo, phạt tiền, tịch thu công cụ, phương tiện vi phạm, buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu, buộc thực hiện đúng hợp đồng.Nhưng trong mọi trường hợp họ đều được đảm bảo các quyền con người, quyền công dân, các quyền dân sự chính trị cơ bản. Còn nếu phải chịu TNHS, người phạm tội có thể bị hạn chế hoặc tước bỏ nhiều quyền cơ ban: bị thiệt hại về tai sản, bi hạn chế cư trú, đi lai; bi cách ly với đời sống cộng đồng có thời hạn hoặc không xác định thời hạn, thậm chí họ có thể bị tước cả sinh mạng. TNHS chỉ đặt ra khi có yếu tố lỗi Trách nhiệm pháp lý đặt ra khi người vi phạm có lỗi: đã không thực hiện, thực hiện không đúng các quy định đã được Nhà nước ban hành hoặc các điều khoản của hợp đồng mà các bên ký kết, tham gia. Trong một số trường hợp đặc biệt, trách nhiệm dân sự đặt ra mà không cần tính đến yếu tố lỗi.
Điều này tuyệt đối không áp dụng với TNHS. Phạm vi áp dụng TNHS hẹp hơn nhiều, chỉ đặt ra khi có tội phạm: hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm tới khách thể được luật hình sự bảo vệ. TNHS là trách nhiệm cá nhân Luật hình sự nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới quy định TNHS là trách nhiệm cá nhân, chính con người cụ thể đã thực hiện tội phạm phải chịu hậu quả bất lợi (trừ một số trường hợp đặc biệt: chủ thể đã sử dụng người không có năng lực TNHS như công cụ, phương tiện để thực hiện tội phạm); không có sự thoả thuận, chuyển giao TNHS giữa các chủ thể như các nghĩa vụ dân sự - lao động. Ở một số quốc gia (Pháp, Trung Quốc, Uc, Singapore.), TNHS dat ra với cả pháp nhân song pháp nhân là chủ thể hạn chế, chỉ áp dụng với một số ít loại tội phạm và loại hình phạt [9, tr 24].
TNHS được xác định theo trình tự, thủ tục chặt chẽ: thủ tục tố tụng hình sự. Người thực hiện tội phạm có nguy cơ phải chịu những hậu quả bất lợi ngay khi tội phạm xảy ra thậm chí cả khi mới chuẩn bị công cụ phương tiện cho việc phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Tuy nhiên, đó là lý thuyết về thời điểm làm phát sinh khả năng phải chịu TNHS của chủ thể tội phạm. Thực tế, để áp dụng bất kỳ hậu quả bất lợi nào đối với người phạm tội đều phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS), phải được tiến hành bởi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã.
Để xác định chắc chắn TNHS của người phạm tội thì Toà án là cơ quan duy nhất có quyền nhân danh Nhà nước chính thức kết tội một con người bằng bản án hình sự. Bản án là kết quả quá trình tiến hành truy cứu TNHS của hệ thống cơ quan tư pháp: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án. So với các dạng trách nhiệm pháp lý khác, TNHS được tiến hành theo trình tự, thủ tục chặt chẽ và nghiêm ngặt hơn rất nhiều. Các dang trách nhiệm pháp lý khác thường chỉ do một cơ quan; một cán bộ - công chức có thẩm quyền giải quyết hoặc các bên 14 có thể tự thương lượng, hoà giải với nhau.
TNHS được tiến hành bởi Cơ quan điều tra: thu thập, đánh giá chứng cứ chứng minh tội phạm; Viện kiểm sát: truy tố, buộc tội bị can trước Toà án bằng bản cáo trạng và Toà án xét xử, kết tội. Bất kỳ sự thiếu sót, nhầm lẫn nào trong quá trình truy cứu TNHS đều có nguy cơ dẫn đến sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và bản án không thể có hiệu lực pháp luật, không thể kết tội người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. TNHS có giới hạn về thời gian Đặc điểm chung của trách nhiệm pháp lý là có giới hạn về thời gian: phát sinh cùng với hành vi vi phạm pháp luật và chấm dứt theo các căn cứ luật định. TNHS phát sinh ngay khi tội phạm xảy ra, nghĩa là chủ thể có nguy co phải chịu hau quả bất lợi khi hành vi của họ CTTP theo quy định của BLHS.
Tuy nhiên, về mặt thực tế người phạm tội chỉ có thể bị hạn chế hay tước bỏ các quyền và lợi ích khi các cơ quan Nhà nước thực hiện việc truy cứu TNHS đối với họ. Quá trình này thường bat đầu bằng việc khởi tố vu án, khởi tố bị can. Các hậu quả bất lợi chấm dứt khi có căn cứ: Người phạm tội được miễn TNHS; được miễn hình phat, được xoá án tích. Đối với các tội phạm ẩn: tội phạm không bị phát hiện, không bị xử lý, về lý thuyết có làm phát sinh TNHS nhưng thực tế người thực hiện tội phạm không bị hạn chế hay tước bỏ các quyền và lợi ích nào do việc đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội.
Và khi hết thời hiệu truy cứu TNHS thì TNHS của họ được giải phóng hoàn toàn, chủ thể sẽ không bao giờ phải chịu những hậu quả bất lợi về mặt pháp lý hình sự cho dù sau đó tội phạm bị phát hiện. Ngoại trừ một số loại tội phạm không áp dụng thời hiệu: các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phá hoại hoà bình, chống phá loài người và tội phạm chiến tranh [1, tr 26]. Các nội dung thể hiện TNHS Mặc dù cùng xác định: TNHS là hậu quả pháp lý bất lợi đối với chủ thể do việc thực hiện tội phạm, song hiện nay còn nhiều ý kiến khác nhau về nội dung của TNHS. Lê Thi Sơn cho rằng: “ TNHS là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ cua các chủ thể: Nhà nước- bên thực hiện TNHS và người phạm tội — bên chịu TNHS.
Đối với người phạm tội, chịu TNHS có nghĩa là phải chịu tất cả các hàu qua do việc thực hiện tội phạm dem lại: BỊ truy cứa TNHS; bị kết tội; phải chịu biện pháp cưỡng chế của TNHS và chịu mang án tích ` [78, tr 8]. Trần Thị Quang Vinh cho rằng: Nội dung của TNHS bao gồm hình phạt, biện pháp tư pháp và án tích; TNHS được thực hiện từ khi bản án kết tội có hiệu lực [91, tr17]. Theo chúng tôi, khi thống nhất rằng: TNHS là những hậu quả pháp lý bất lợi về hình sự do việc thực hiện tội phạm; TNHS phát sinh từ thời điểm tội phạm được thực hiện thì tất cả các biện pháp cưỡng chế có tính chất tư pháp- hình sự áp dụng đối với người thực hiện tội phạm khi họ bị truy cứu và việc thi hành án, mang án tích đều là những nội dung biểu hiện TNHS. Bởi vì tất cả các bất lợi này đều có nguyên nhân từ việc thực hiện tội phạm và nó không thể là dạng trách nhiệm pháp lý nào khác.
Tính chất, mức độ của TNHS thường được thể hiện qua: tính nghiêm khắc của biện pháp ngăn chặn, tội danh, khung hình phạt, mức hình phạt, biện pháp tư pháp, án tích. Khi TNHS nhẹ, do có sự thay đổi của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ.