Chương 1: Một số vấn đề lý luận về áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Chương 2: Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm 2015 Chương 3:Thực tiễn áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong công tác xét xử tại quận Long Biên – thành phố Hà Nội và một số kiến nghị bảo đảm áp dụng đúng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự 6 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ 1. Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự 1. Khái niệm trách nhiệm hình sự Cho đến nay, xung quanh khái niệm TNHS vẫn còn những quan điểm khác nhau. Trách nhiệm hình sự, với tính cách là một dạng của trách nhiệm pháp lý là việc phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi của người phạm tội trước Nhà nước trong tình trạng bị cưỡng chế do việc người đó đã thực hiện tội phạm.
Quy định cơ sở trách nhiệm hình sự thống nhất đối với tất cả mọi người thực hiện tội phạm; quy định hệ thống tội phạm và hình phạt thống nhất đối với tất cả mọi người phạm tội; quy định khung hình phạt thống nhất cho mỗi loại tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội giống nhau; quy định cơ sở thống nhất của việc quyết định hình phạt [44, tr. Thời điểm người phạm tội thực hiện tội phạm là thời điểm bắt đầu phát sinh mối quan hệ pháp luật hình sự giữa Nhà nước và người phạm tội. Từ khi đó, Nhà nước có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết, có quyền buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự. Người phạm tội phải có nghĩa vụ phải chịu các biện pháp cưỡng chế, chịu trách nhiệm hình sự do Nhà nước áp dụng.
Nhưng nghĩa vụ chịu trách nhiệm hình sự của người phạm tội sẽ không được thực hiện trên thực tế nếu tội phạm không bị phát hiện, tội phạm đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của luật hình sự.Người phạm tội có thể phải chịu TNHS và có thể được miễn TNHS. Giống như với người phải chịu TNHS, người được miễn TNHS là người đã thực hiện tội phạm, nghĩa là đã thực hiện hành vi thỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm được luật hình sự quy định. Từ thời điểm thực hiện tội phạm, người phạm tội phải có nghĩa vụ gánh chịu hậu quả bất lợi là TNHS, nhưng vì có những căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của Luật hình sự, người đó lại được miễn trách nhiệm hình sự. Đối với người được miễn TNHS, nghĩa vụ phải chịu hậu quả bất lợi đã không trở thành hậu quả bất lợi thực tế mà người đó 7 phải chịu.Quan điểm này thực chất đã thu hẹp nội dung của trách nhiệm hình sự.
Như chúng ta đã biết, trong số các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước có tính chất pháp lý hình sự áp dụng đối với người phạm tội thì hình phạt là biện pháp cưỡng chế chủ yếu và nghiêm khắc nhất. Tuy nhiên, TNHS và hình phạt là những khái niệm không đồng nhất. TNHS là một chế định pháp lý, còn hình phạt chỉ là một trong những biện pháp để thực hiện, để cụ thể hóa trách nhiệm hình sự. Trong Bộ luật hình sự nước ta, thuật ngữ "trách nhiệm hình sự" và "hình phạt" cũng đã được phân biệt qua một số quy định cụ thể.
Điều 2 Bộ luật hình sự quy định: "Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự". Đoạn cuối Điều 26 Bộ luật hình sự quy định: "Hình phạt. do Tòa án quyết định". Điều 25 Bộ luật hình sự quy định về "miễn trách nhiệm hình sự", Điều 54 Bộ luật hình sự quy định về "miễn hình phạt".
Sự tồn tại của thuật ngữ "miễn hình phạt" cùng với thuật ngữ "miễn trách nhiệm hình sự" trong BLHS cũng đã phản ánh sự không đồng nhất của hai khái niệm trách nhiệm hình sự và hình phạt trong luật hình sự nước ta. Khái niệm trách nhiệm hình sự là khái niệm rộng hơn khái niệm hình phạt. Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc phạm tội được áp dụng đối với người thực hiện hành vi phạm tội, còn hình phạt chỉ là một trong những biện pháp cưỡng chế chủ yếu của trách nhiệm hình sự. Trách nhiệm hình sự, theo luật hình sự Việt Nam, đã được phân ra thành hai loại: loại có hình phạt và loại không có hình phạt (miễn hình phạt).
Trong trường hợp có hình phạt, trách nhiệm hình sự mà người phạm tội phải chịu trước hết thể hiện ở bản án kết tội kèm theo việc quyết định hình phạt của Tòa án đối với người phạm tội. Người phạm tội không chỉ bị kết tội, "bị coi là có tội" mà còn phải chịu hình phạt do Tòa án quyết định trong bản án kết tội đó. Trong trường hợp miễn hình phạt, trách nhiệm hình sự được thể hiện ở bản án kết tội của Tòa án mà không có quyết định hình phạt đối với người phạm tội. Người phạm tội bị Tòa án, nhân danh Nhà nước, kết án vì đã thực hiện hành vi phạm tội.
Với bản án kết tội có hiệu lực pháp luật, người phạm tội chính thức "bị coi là có tội" nhưng người đó không bị Tòa án quyết định hình phạt mà được miễn hình phạt. 8 Từ những phân tích trên, có thể xác định khái niệm trách nhiệm hình sự như sau: Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải chịu trước Nhà nước do việc người đó thực hiện tội phạm và là kết quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự, được thể hiện ở bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật, hình phạt và một số biện pháp cưỡng chế hình sự khác do luật hình sự quy định. Đặc điểm của trách nhiệm hình sự Đặc điểm thứ nhất: Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm Trách nhiệm hình sự là một loại trách nhiệm pháp lý chỉ có thể áp dụng đối với người thực hiện hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm, nghĩa là việc thực hiện hành vi thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được quy định trong luật hình sự. Không có việc thực hiện hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm thì không thể có trách nhiệm hình sự.
Trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự, để quy kết hành vi nào đó là tội phạm và buộc người thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm hình sự, người áp dụng pháp luật phải trên cơ sở đối chiếu hành vi đã thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự, chứ không được áp đặt theo ý thức chủ quan, bất chất những quy định của pháp luật. Nếu trong quá trình áp dụng pháp luật, người áp dụng pháp luật xác định được hành vi của một người thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được Bộ luật hình sự quy định thì mới có thể kết luận hành vi đó là tội phạm được bộ luật hình sự quy định thì mới có thể kết luận hành vi đó là tội phạm và mới có thể bắt buộc người thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm hình sự. Đặc điểm thứ 2: Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm của cá nhân người phạm tội Theo luật hình sự Việt Nam, trách nhiệm hình sự chỉ có thể là trách nhiệm của cá nhân người đã thực hiện hành vi mà luật hình sự coi là tội phạm. Về nguyên tắc, trách nhiệm hình sự phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm do người phạm tội thực hiện.
Mác đã viết: “Nếu như khái niệm tội phạm giả địnhphải có sự trừng phạt, thì tội phạm thực tế lại giả định phải có một mức độ trừng phạt nhất định. Tội phạm thực tế là có giới hạn.Vì vậy, cả sự 9 trừng phạt phải có giới hạn, dẫu chỉ là để cho nó có tính chất thực tế, nó phải được hạn chế bởi nguyên tắc pháp luật để trở thành hợp pháp. Vấn đề là ở chỗ làm cho sự trừng phạt trở thành hậu quả thực tế của việc phạm tộiDưới con mắt của kẻ phạm tội, sự trừng phạt phải là kết quả tất yếu của hành vi của chính người đó, do đó phải là hành vi của chính người đó. Giới hạn của hành vi của yphải là giới hạn của sự trừng phạt”[42, tr.Người phải chịu TNHS chỉ có thể là người phạm tội, nghĩa là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự coi là tội phạm khi đã đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có năng lực TNHS và có lỗi.
Trong trường hợp tội phạm được thực hiện dưới hình thức đồng phạm thì từng người đồng phạm cũng phải chịu trách nhiệm hình sự độc lập. Hình phạt quyết định đối với từng người đồng phạm được quyết định căn cứ vào tính chất đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm. Đặc điểm thứ ba: Trách nhiệm hình sự được thể hiện ở bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật, hình phạt và một số biện pháp cưỡng chế hình sự khác do luật hình sự quy định Trách nhiệm hình sự thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội. TNHS là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, thể hiện trước hết ở việcTòa án, nhân danh Nhà nước, kết án người phạm tội.
Nếu không có bản án kết tội của Tòa án thì không thể nói đến trách nhiệm hình sự đối với một người. Điều 31 Hiến pháp năm 2013 của nước ta đã khẳng định một trong những nguyên tắc quan trọng nhằm bảo vệ các quyền của con người trong hoạt động tư pháp hình sự - nguyên tắc suy doán vô tội với nội dung như sau: Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Nguyên tắc này cũng được ghi nhận tương tự tại Điều 9 BLTTHS 1999.Bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật là cơ sở pháp lý xác nhận người phạm tội chính thức “bị coi là có tội”. Đó chính là hậu quả pháp lý thể hiện một trong những nội dung quan trọng của trách nhiệm hình sự mà người phạm tội phải chịu trước nhà nước.