Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ 1.1 KHÁI NIỆM VA CƠ SỞ CUA TRÁCH NHIEM HINH SỰ 1. Khái niệm trách nhiệm hình sự Trước khi bàn về khái niệm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần làm rõ khái niệm TNHS, nội dung và giới han của nó. Thuật ngữ “trách nhiệm” theo Từ điển TiếngViệt được hiểu theo hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất là “phần việc được giao cho hoặc coi như giao cho phải làm tròn, nếu kết quả không tốt phải gánh chịu phần hậu quả.
Nghĩa thứ hai “trách nhiệm” được hiểu là sự ràng buộc với lời nói hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn, nếu sai trái thì phải gánh nin phần hậu guđ"{91,1001]. Như vậy, trong nghĩa thứ nhất trách nhiệm được hiểu là phần việc được giao phải hoàn thành và ở nghĩa thứ hai được hiểu là hậu quả phải chịu vì việc làm trái với yêu cầu. Trong lĩnh vực pháp luật, “trách nhiệm” cũng được hiểu theo hai nghĩa, hoặc chỉ về chức trách, bổn phận phải làm, hoặc chỉ về hậu quả pháp lý của việc vị phạm pháp luật. Tuy nhiên, theo quan niệm truyền thống, trách nhiệm pháp lý thường được hiểu gắn liên với hành vi vi phạm pháp luật và là trách nhiệm phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi, những biện pháp cưỡng chế được quy định ở các chế tài pháp luật.
Người ta biết đến các loại trách nhiệm pháp lý như trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm kỷ luật. TNHS là một dạng của trách nhiệm pháp lý. Trách nhiệm hình sự là một vấn đề then chốt của luật hình sự. Tùy thuộc vào việc quan niệm như thế nào về TNHS sẽ có một phạm vi tác động cưỡng chế hình sự tương ứng.
Day chính là vấn dé có tính chất nền tang cho _ Việc xây dựng hệ thống biện pháp cưỡng chế hình sự. Liên quan đến chế định l1 các tình tiết giảm nhẹ TNHS, quan niệm như thế nào về TNHS, về nội dung của nó sẽ có phạm vi miễn, giảm TNHS tuong ứng. “Trách nhiệm hình sự theo cách hiểu phổ biến nhất trong luật hình sự, đó là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, thể hiện ở chỗ người gây ra tội phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước”[88,41]. Vậy, người phạm tội phải gánh chịu hậu quả pháp lý như thế nào do việc phạm tội.
Điều này thể hiện thông qua việc xác định nội dung của TNHS. Nội dung của TNHS chỉ có thể xác định trên cơ sở nhận thức đúng về bản chất của TNHS. Về vấn đề này, PGS. TS Kiều Đình Thụ đã nhận xét: “Bản chất của TNHS là sự lên án của Nhà nước đối với người có lỗi khi thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm, là sự phản ứng của Nhà nước đối với tội pham”[70,66].
Với ý nghĩa là sự phản ứng của Nhà nước đối với tội phạm, TNHS phải là những tác động cưỡng chế hình sự được đặt ra nhằm bảo vệ và duy trì trật tự xã hội. Do vậy, các tác động cưỡng chế hình sự thuộc nội dung của TNHS phải là những tác động bất lợi về pháp lý đối với người phạm tội nhằm giáo dục cải tạo, khiến họ không phạm tội mới. Đây phải là tiêu chí để xác định nội dung của TNHS. Hiện nay, trong tài liệu pháp lý đang có những ý kiến khác nhau xoay quanh nội dung của TNHS.
Tuy nhiên, bị kết án, chịu hình phạt, biện pháp tư pháp, án tích là những tác động cưỡng chế hình sự đều được nhìn nhận là thuộc nội dung của TNHS [43,14], [51,18], [74,6], [73,164], [75,110], [106,66]. Thật vậy, bằng bản án kết tội, Nhà nước chính thức lên án đối với người đã có hành vi phạm tội và trên cơ sở đó thể hiện thái độ phản ứng của mình thông qua việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế hình sự như áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp. Chính việc kết án đã gây tình trạng án tích đối với người pnam tdi. Hình phat chẳng qua là phương tiện tự vệ của xã hội trước tội phạm thể hiện ở chỗ nó là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội.
Hình phạt là hình 12 thức thực hiện chủ yếu của TNHS. Bất cứ một tội phạm cu thể nào cũng đều được quy định với một chế tài tương ứng là hình phạt. Chính vì lẽ đó, người ta thường đồng nhất TNHS với hình phạt. Thực chất, tuy là hình thức thực hiện chủ yếu của TNHS, hình phạt cũng chỉ là một trong các hình thức thực hiện TNHS.
Bên cạnh hình phạt, TNHS còn được thực hiện thông qua các tác động cưỡng chế khác về hình sự như biện pháp tư pháp, án tích. Biện pháp tư pháp là biện pháp hình sự được BLHS quy định, do cơ quan tư pháp áp dụng đối với người có hành vi nguy hiểm cho xã hội, có tác dụng hỗ trợ hoặc thay thế hình phạt [73,194]. Theo BLHS năm 1999, các biện pháp tư pháp bao gồm tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi; bắt buộc chữa bệnh. Khi áp dụng đối với người phạm tội, các biện pháp tư pháp cũng thể hiện sự phản ứng của Nhà nước trước tội phạm.
Việc áp dụng các biện pháp tư pháp cũng nhằm giáo dục, cải tạo người phạm tội, đồng thời loại bỏ những điều kiện phạm tội, ngăn ngừa việc gây thiệt hại cho xã hội trong tương lai và đem lại trật tự an toàn cho xã hội. Do vậy, các biện pháp tư pháp thuộc nội dung của TNHS. Tuy nhiên, riêng đối với biện pháp tư pháp “trả lại tài sản, sửa chữa, bồi thường thiệt hại”, theo chúng tôi cần có lời bàn. Biện pháp tư pháp “trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại” là biện pháp được Bộ luật Hình sự (BLHS) quy định, do các cơ quan tư pháp áp dụng đối với người phạm tội hoặc n:,ười có trách nhiệm bồi thường thiệt hai do tội phạm gây ra.
Bản chất của biện pháp này xuất phát từ nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, nên thuộc nội dung của trách nhiệm dân sự. Không tách biện pháp tư pháp “trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại” ra khỏi nội dung của TN¡1S có thể đưa đến việc miễn TNHS đồng thời dẫn đến việc miễn cả 'trách nhiệm dân sự. Phạm Hồng Hải đã có lý khi nhận xét: “Khi thời hiệu truy cứu TNHS đã hết, nếu Nhà nước (mà cụ thể trong trường hop này là pháp luật) giải phóng người phạm tội khỏi TNHS và 13 đồng thời giải phóng họ khỏi các trách nhiệm khác là vi phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức - đối tượng cần được Nhà nước và pháp luật bao vệ”[28,35]. Do vậy, theo chúng tôi, biện pháp “trả lại tài sản, stra: chữa hoặc bồi thường thiệt hại” không thuộc nội dung của TNHS.
Với những phân tích trên, trừ biện pháp tư pháp “trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại”, các biện pháp tư pháp khác đều thuộc nội dung của TNHS. Án tích là hậu quả pháp lý của bản án kết tội của Toà án đối với người phạm tội [88,276]. Án tích là một tình trạng pháp lý bất lợi về hình sự đối với người phạm tội thể hiện ở ảnh hưởng của nó đến việc đánh giá tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi được coi là tội phạm trong thời gian người đó mang án tích, là điều kiện để xác định về tái phạm, tái phạm nguy hiểm nếu họ phạm tội mới. Ngoài những hậu quả pháp lý hình sự, về phương diện xã hội, án tích cũng có thể gây ra một số hạn chế nhất định như đảm nhiệm một s6 cương vi công tác, công việc theo quy định của cơ quan quan lý.
Tóm lại, trách nhiệm hình sự là một dang của trách nhiệm pháp lý, là hậu quả của việc phạm tội, với nội dung bao gồm việc bị Toà án kết án về một tội phạm cụ thể, chịu hình phạt, biện pháp tư pháp và án tích. TNHS có giới hạn về thời gian. Với quan niệm TNHS là trách nhiệm phải chịu những tác động cưỡng chế về hình sự do việc phạm tội, nên trách nhiệm đó được bắt đầu từ thời điểm tội phạm được thực hiện. Kể từ thời điểm tội phạm được thực hiện, quan hệ pháp luật hình sự (PLHS) phát sinh.
Nhà nước có quyền buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm về việc phạm tội. Tuy nhiên, TNHS chỉ được thực hiện trên cơ sở bản án có hiệu lực pháp luật. Hay hỏi cách khác, TNHS được thực hiện từ khi ban án kết tội có hiệu lực pháp luật. Với logic trên, thời điểm kết thúc của TNHS là thời điểm các tác động cưỡng chế hình sự thuộc nội dung của TNHS đó không còn hiệu lực hoặc có cơ sở để đình chỉ TNHS.
Nhận thức về giới hạn của TNHS là cơ sở lý luận để xác định đúng phạm vi của việc miễn, giảm TNHS.2 Cơ sở cua trách nhiệm hình sự Theo Từ điển Tiếng Việt từ “ cơ sở? được hiểu là “cdi làm nên tdng trong quan hệ với những cái xây dung trên nó hoặc dựa trên nó mà tổn tại, phát triển”. Trong lĩnh vực PLHS, cơ sở của TNHS là “căn cứ chung, có tinh chất bắt buộc và do Luật Hình sự quy định mà chỉ có và phải dua vào đó các cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới có thể đặt vấn dé TNHS của người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã héi’ [4,1]. Xác định cơ sở của TNHS, Điều 2 BLHS quy định “Chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy định thì mới phải chịu TNHS”. Như vậy, theo Điều 2 BLHS, cơ sở của TNHS là việc thực hiện một hành vi mà pháp luật hình sự quy định là tội phạm.
Xuất phát từ nguyên tắc công bằng, Luật Hình sự nước ta khẳng định vai trò quyết định của hành vi với ý nghĩa là cơ sở của TNHS. Trong lich sử phát triển của khoa học pháp lý trên thế giới, cũng đã có những quan điểm khác nhau về việc lựa chọn hành vi hay nhân thân người phạm tội làm cơ sở của TNHS. Ferri - một người theo trường phái nhân chủng học thi TNHS không xuất phát từ nguyên tắc tự do lựa chọn hành vi, cơ sở của TNHS là nhu cầu của xã hội cần có phan ứng chống lại những biểu hiện tiém ẩn trong con người có bệnh lý bẩm sinh.