Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT NHẸ HƠN QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của quyết định hình phạt 1. Khái niệm, đặc điểm của quyết định hình phạt Quyết định hình phạt là một công việc quan trọng trong hoạt động xét xử vụ án hình sự của Tòa án.
Khi tìm hiểu về QĐHP, trước tiên cần bàn về khái niệm QĐHP. Khái niệm QĐHP được coi là một trong các khái niệm cơ bản và quan trọng của luật hình sự Việt Nam. Luật hình sự xác định hành vi nào là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới các khách thể được luật hình sự bảo vệ và quy định các biện pháp với tư cách là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất để áp dụng đối với người phạm tội. Ở nước ta, trước đây, thuật ngữ QĐHP còn có tên gọi là lượng hình.
Sau khi BLHS được ban hành năm 1985 và có hiệu lực, thuật ngữ lượng hình mới được thay bằng tên gọi là QĐHP như hiện nay. Mặc dù là một khái niệm quan trọng nhưng cho tới nay, pháp luật hình sự Việt Nam vẫn chưa có một một quy định để xác định khái niệm QĐHP. Khái niệm này chỉ được nghiên cứu dưới góc độ là một khái niệm khoa học luật hình sự. Trong khoa học luật hình sự đã có nhiều nhà nghiên cứu về luật hình sự đưa ra các khái niệm khác nhau về vấn đề này, chẳng hạn như, ThS.
Đinh Văn Quế đưa ra định nghĩa mang tính khái quát về QĐHP như sau "Quyết định hình phạt là việc Tòa án lựa chọn hình phạt buộc người bị kết án phải chấp hành. Tòa án lựa chọn loại hình phạt nào, mức hình phạt bao nhiêu, phải tuân theo những quy định của Bộ luật Hình sự" [24]. Trong khi đó, TS. Lê Văn Đệ thì cho rằng: "Quyết định hình phạt là sự lựa chọn loại hình phạt và xác 16 z định mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội cụ thể" [9, tr.
Dưới góc độ của luật tố tụng hình sự, TS. Chu Thị Trang Vân cho rằng: "Quyết định hình phạt là một giai đoạn rất quan trọng trong hoạt động xét xử của Bộ luật Hình sự, là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể được quy định trong luật hình sự tương ứng với cấu thành tội phạm cụ thể để áp dụng với người phạm tội, thể hiện trong bản án buộc tội" [55]. Trong giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội thì "quyết định hình phạt là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt cụ thể (bao gồm hình phạt chính và có thể cả hình phạt bổ sung) với mức độ cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội" [3, tr. Còn trong giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội thì định nghĩa: "Quyết định hình phạt là sự lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội cụ thể" [50, tr.
Nhìn chung, các khái niệm do các tác giả đưa ra trên đây suy cho cùng đều khẳng định QĐHP là việc Tòa án lựa chọn loại và mức hình phạt trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội. Việc lựa chọn loại hình phạt được hiểu là chỉ lựa chọn loại hình phạt chính hoặc cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung trong số các hình phạt thuộc hệ thống hình phạt quy định tại BLHS, với những mức độ cụ thể, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhằm đạt được các mục đích của hình phạt. Có thể nói đây chính là nội dung cốt lõi của khái niệm QĐHP và được đa số các nhà khoa học đồng tình ủng hộ. Tuy nhiên, hiện nay, khái niệm về QĐHP còn được một số nhà luật học đưa ra nghiên cứu theo hai khía cạnh đó là: nghĩa hẹp của khái niệm QĐHP, nghĩa rộng của khái niệm QĐHP [50, tr.
Theo đó, các tác giả này cho rằng các quan điểm về QĐHP mà đã trình bày trên đây chỉ là khái 17 z niệm QĐHP theo nghĩa hẹp. Còn theo nghĩa rộng của vấn đề thì QĐHP còn bao gồm cả các hoạt động: xác định người phạm tội có được miễn TNHS hay miễn hình phạt hay không, xác định khung hình phạt, xác định loại và mức hình phạt cụ thể trong phạm vi khung hình phạt hoặc dưới khung đó [15, tr. Như vậy, qua phân tích trên đây có thể đưa ra khái niệm khoa học về QĐHP được hiểu theo hai nghĩa là nghĩa rộng và nghĩa hẹp như sau: Thứ nhất, nghĩa hẹp của QĐHP là việc Tòa án ra QĐHP với hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Thứ hai, nghĩa hẹp của QĐHP là bao gồm cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung, quyết định các biện pháp chấp hành hình phạt, miễn TNHS, miễn hình phạt hoặc quyết định áp dụng các biện pháp tư pháp khác nhằm mục đích thay thế hoặc bổ sung cho hình phạt.
Ví dụ, quyết định biện pháp bắt buộc chữa bệnh… Như vậy, với nội dung nêu trên thì QĐHP chỉ có thể đặt ra đối với những trường hợp người phạm tội phải chịu TNHS và bị áp dụng hình phạt. Đối với hình phạt chính, đa số hình phạt quy định cho các tội phạm là chế tài lựa chọn. Do vậy, nếu trong khung hình phạt có nhiều loại hình phạt khác nhau thì QĐHP là việc lựa chọn một hình phạt cụ thể trong các hình phạt đó và xác định một mức hình phạt cụ thể trong phạm vi cho phép để áp dụng đối với người phạm tội. Trường hợp hình phạt mà Toàn án tuyên cho bị cáo là cảnh cáo, trục xuất, tù chung thân hoặc tử hình thì QĐHP thực chất chỉ là việc lựa chọn hình phạt mà không có bước xác định mức hình phạt cụ thể áp dụng cho người phạm tội.
Đối với hình phạt bổ sung, việc QĐHP tương tự như QĐHP chính, tức là Tòa án lựa chọn loại và quyết định mức hình phạt chính trong phạm vi cho phép của khung hình phạt để áp dụng kèm theo hình phạt chính nhằm mục đích bổ sung cho hình phạt chính, mở rộng khả năng pháp lý cho Tòa án lựa chọn hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội 18 z phạm và đặc điểm nhân thân của người phạm tội. Tuy nhiên, về cơ bản nhất QĐHP chính vẫn là nội dung cốt lõi của QĐHP và quyết định bản chất của khái niệm này. Trong khoa học luật hình sự hiện nay, khi xác định nội dung của khái niệm QĐHP thì có tác giả còn cho rằng nên coi việc miễn hình phạt và miễn TNHS thuộc về giai đoạn QĐHP [22, tr. Dương Tuyết Miên trong sách "Định tội danh và quyết định hình phạt" thì nên coi miễn hình phạt thuộc về giai đoạn QĐHP.
Điều 54 BLHS quy định: "Người phạm tội có thể được miễn hình phạt trong trường hợp phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật này, đáng được khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự" [29]. Như vậy, về nội dung pháp lý thì miễn hình phạt là không buộc người phạm tội phải chịu hình phạt tức biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất về tội mà họ đã phạm. Miễn hình phạt phải thuộc về giai đoạn QĐHP vì miễn hình phạt được thực hiện sau khi Tòa án đã xác định xong tội danh và là bước đầu của quá trình xác định hình phạt. Cũng theo TS.
Dương Tuyết Miên, đối với trường hợp miễn TNHS cũng nên coi thuộc về giai đoạn QĐHP, bởi những lý do sau: Miễn TNHS là không buộc người phạm tội phải chịu TNHS về tội họ đã thực hiện. Miễn TNHS được thực hiện sau khi Tòa án đã xác định xong tội danh cho bị cáo nên không thể thuộc giai đoạn định tội danh. Trên cơ sở định tội danh bị cáo đã phạm, Tòa án sẽ xem xét, nếu thấy không cần thiết phải truy cứu TNHS đối với bị cáo mà vẫn đảm bảo được các yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm thì Tòa án sẽ tuyên bố miễn TNHS cho bị cáo [22, tr. Tác giả đồng ý với quan điểm của TS.
Dương Tuyết Miên coi miễn hình phạt là biện pháp xử lý TNHS chỉ do Tòa án tiến hành trên cơ sở những căn cứ, quy định của BLHS. Miễn hình phạt cũng chỉ được tiến hành sau khi Tòa án đã định tội danh xong đối với bị cáo. Vì vậy, cần xác định miễn hình phạt phải thuộc về giai đoạn QĐHP. 19 z Còn đối với quan điểm cho rằng miễn TNHS thuộc về giai đoạn QĐHP thì tác giả không đồng ý, bởi lẽ, miễn TNHS là một biện pháp xử lý hình sự do nhiều chủ thể có thẩm quyền khác nhau tiến hành, tùy từng giai đoạn tố tụng khác nhau, như: Cơ quan điều tra ở giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát ở giai đoạn truy tố, hay Tòa án ở giai đoạn xét xử.
Như vậy, người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có đủ các điều kiện được miễn TNHS thì vẫn được các cơ quan có thẩm quyền áp dụng các quy định của BLHS để miễn TNHS cho người đó. Hơn nữa, QĐHP là hoạt động của Tòa án trong việc áp dụng pháp luật hình sự, do đó nếu cho rằng miễn TNHS thuộc về giai đoạn QĐHP là chưa chính xác ở cả khía cạnh nội dung lẫn khía cạnh chủ thể có thẩm quyền QĐHP. Một vấn đề nữa mà chúng ta cần làm rõ để hiểu chính xác nội hàm khái niệm QĐHP là việc xác định giai đoạn định khung hình phạt có thuộc về hoạt động QĐHP hay không? Tác giả cho rằng, cần coi giai đoạn định khung hình phạt là một trình tự của hoạt động QĐHP, thuộc về hoạt động QĐHP. Bởi vì, định khung hình phạt là việc làm được thực hiện sau khi định tội danh xong và là hoạt động đầu tiên xác định giới hạn tối thiểu và tối đa của hình phạt theo khung hình phạt được phép áp dụng, trên cơ sở giới hạn luật định, hình phạt cụ thể sẽ được quyết định.
Mặt khác, việc định tội danh phải được thực hiện trên cơ sở cấu thành tội phạm cơ bản chứ không phải là các cấu thành tội phạm tăng nặng hoặc giảm nhẹ.