đặt vấn đề giải quyết trách nhiệm pháp lý của họ trong mối quan hệ với trách nhiệm giáo dục, quản lý của xã hội, của gia đình và nhà trường trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của NCTN. Các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính Luận chất nguyvăn thạc hiểm cho sĩcủa xã hội Luật hành học vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm. Chính vì vậy, viêc xử lý những hành vi phạm tội do NCTN thực hiện cần phải được xem xét kỹ lưỡng nhằm phù hợp và thể hiện được tinh thần nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam cũng như phù hợp với tinh thần Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em. Nguyên tắc xử lý đối với NCTNPT là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình xây dựng cũng như áp dụng các quy định của pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự, các văn bản có liên quan đến NCTNPT.
Căn cứ vào các chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta về cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm và dựa trên cơ sở những kinh nghiệm trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm do NCTN thực hiện cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam, nhà làm luật đã quy định một cách toàn diện và thống nhất đường lối xử lý về hình sự đối với NCTNPT tại một chương riêng của Bộ luật hình sự (Chương X – Phần chung). 8 Nguyên tắc xử lý đối với NCTNPT được quy định tại Điều 69 BLHS 1999, thể hiện đầy đủ quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo vệ NCTN. Các nguyên tắc này bao gồm: Nguyên tắc thứ nhất: Việc xử lý đối với NCTNPT chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa những sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội.Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử của NCTN, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra phạm tội [20]. Việc xử lý đối với NCTNPT là nhằm giáo dục họ ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng các quy tắc của xã hội, giúp họ nhận ra và sửa chữa những sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội.
Đây là nguyên tắc cơ bản và bao trùm xuyên suốt toàn bộ chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta đối với NCTNPT và được thể hiện trong quá trình xử lý các vụ án mà bị can, bị cáo là Luận NCTN. Do chưa văn phát triển thạc và hoàn sĩvềLuật thiện học các mặt, cho nên không phải bất cứ trường hợp phạm tôi cụ thể nào NCTN cũng có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tức là có khả năng nhận thức đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện và hậu quả của nó cũng như khả năng điều khiển hành vi đó. Vì thế, luật hình sự Việt Nam đòi hỏi trong quá trình tố tụng, các cơ quan và người tiến hành tố tụng cần áp dụng các biện pháp phù hợp nhằm xác định chính xác mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Ngoài ra, cần làm rõ khả năng nhận thức của NCTN về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện phạm tội, thiệt hại do tội phạm gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự… Chỉ khi làm rõ những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ nguy hiểm của hành vi và nhân thân người phạm tội thì cơ quan tư pháp và người người tiến hành tố tụng mới có thể giúp họ nhận thức được sai lầm, để từ đó có thể giáo dục, uốn nắn những hành vi không phù hợp, làm cho họ tự giác sửa chữa để trở thành công dân có ích cho xã hội.
9 Nguyên tắc thứ hai: Người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình, cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục [20]. Miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội có nghĩa là miễn bị truy cứu trách nhiệm hình sự và đương nhiên kéo theo là miễn phải chịu các hậu quả tiếp theo do sự thực hiện trách nhiệm hình sự từ phía Nhà nước đem lại [24, tr. Như vậy, để có thể được miễn trách nhiệm hình sự trong trường hợp này cần có những điều kiện sau: Thứ nhất, người phạm tội là NCTN. Theo quy định của BLHS hiện hành, NCTNPT là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS và họ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình theo quy định của pháp luật hình sự.
Thứ hai, tội phạm do NCTN thực hiện phải là tội ít nghiêm trọng hoặc tội Luận phạm nghiêm trọng, gây văn thạc hại không lớn. sĩ Luật Theo học quy định tại khoản 3 Điều 8 BLHS 1999 thì: “Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là không đến 3 năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là không đến 7 năm tù”. So với BLHS 1985, BLHS 1999 đã quy định một điểm mới là NCTNPT không chỉ được miễn trách nhiệm hình sự khi phạm tội ít nghiêm trọng mà đối với tội nghiêm trọng cũng được xem xét miễn trách nhiệm hình sự. Thứ ba, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là những tình tiết thuộc về mặt khách quan, chủ quan của tội phạm, phản ánh nhân thân người phạm tội hoặc chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự mà sự xuất hiện của nó còn làm giảm tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, người phạm tội và kết quả là làm giảm tính chất, mức độ nghiêm khắc của trách nhiệm hình sự, chủ thể được miễn trách nhiệm hình sự, được miễn hình phạt, được xử lý theo tội danh nhẹ hơn, khung hình phạt nhẹ hơn hoặc mức hình phạt 10 thấp hơn. Theo nguyên tắc này đòi hỏi người phạm tội phải có ít nhất từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên. Thứ tư, người phạm tội được gia đình, cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục. Luật không quy định trường hợp nào thì gia đình giám sát, giáo dục; trường hợp nào thì cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục.
Vì vậy, tùy từng trường hợp mà quyết định ai là giáo sát, giáo dục, cụ thể là: nếu người phạm tội đang sinh sống với gia đình, thì phải được gia đình nhận giám sát, giáo dục; trường hợp người phạm tội không ở với gia đình như đi làm ở cơ quan, tổ chức… thì phải được cơ quan tổ chức nhận giám sát, giáo dục. Như vậy, theo quy định của nguyên tắc này thì ngoài những điều kiện miễn trách nhiệm hình sự được áp dụng chung, NCTN từ đủ 16 tuổi trở lên phạm tội có thể được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình, cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục. NCTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách Luận văn nhiệm hình thạc sự khi sĩrấtLuật phạm tội nghiêmhọc trong do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng .Việc miễn trách nhiệm hình sự đối với NCTN được thực hiện theo quy định chung. Nguyên tắc thứ ba: Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với NCTNPT và áp dụng hình phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong những trường hợp thật cần thiết và phải căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, vào những đặc điểm nhân thân và yêu cầu của phòng ngừa tội phạm [20].
Theo nguyên tắc này thì các cơ quan tiến hành tố tụng có thể áp dụng các biện pháp xử lý khác khi thấy không cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với NCTNPT. Trường hợp cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với NCTN thì không có nghĩa là phải áp dụng hình phạt đối với họ mà có thể áp dụng các biện pháp tư pháp khác và thậm chí trong một số trường hợp là miễn hình phạt đối với họ. Tính chất hành vi phạm tội được hiểu là căn cứ vào mức độ nghiêm trọng của “hành động phạm tội làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm, gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm qua việc chủ thể thực hiện 11 một việc bị pháp luật cấm” [35, tr. Nhân thân người phạm tội trong luật hình sự được hiểu là tổng hợp những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn về trách nhiệm hình sự của người phạm tội nên việc truy cứu trách nhiệm hình sự cũng cần phải xét đến yếu tố nhân thân người phạm tội.
Nhân thân bao gồm nhiều mặt, thể hiện những đặc điểm, đặc tính xã hội khác nhau, thể hiện tính cá biệt và tính không lặp lại của mỗi con người cụ thể [25, tr. Nguyên tắc thứ tư: Nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với NCTNPT thì Tòa án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp như giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng [21]. Theo nguyên tắc này việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với NCTNPT chỉ được đặt ra khi nó thật sự cần thiết, việc xử lý hình sự đối với NCTN chỉ là biện pháp cuối cùng khi các biện pháp xử lý khác của Nhà nước không còn hiệu quả. Trong trường hợp có những biện pháp xử lý khác khoan hồng mà không cần áp dụng hình phạt đối với NCTNPT thì Luận ưu tiên áp dụng các biệnvăn pháp thạc này.
Cácsĩbiện Luật pháp học tư pháp như giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng là các biện pháp mang tính giáo dục và nếu người phạm tội được áp dụng thì không bị coi là có án tích. Do đó, Tòa án khuyến khích áp dụng các biện pháp này khi xét đến tính chất, hành vi phạm tội, những đặc điểm về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của NCTNPT.