CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÁC CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 1.1 Tổng quan về quản lý dự án đầu tư 1.1 Khái niệm về dự án và quản lý dự án “Dự án là một nỗ lực tạm thời để tạo ra một sản phẩm, dịch vụ hay kết quả duy nhất.” (Viện Quản lý dự án Hoa Kỳ, 2020) Trong định nghĩa có thể thấy, dự án dù có thời gian dài hàng chục năm hay ngắn hạn chỉ vài tháng, vài tuần thì luôn có một điểm khởi đầu và một điểm kết thúc. Dự án sẽ không kéo dài mãi mãi. Mỗi dự án sẽ tạo ra một sản phẩm, dịch vụ hay kết quả độc nhất. Dù bạn thấy nhiều dự án cùng một chủ đầu tư, do một nhà thầu thực hiện, sử dụng những nguyên vật liệu và cách làm giống nhau thì các dự án đó vẫn tạo ra những kết quả khác nhau về thời gian, địa điểm, tính chất.
“Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép.2 Khái niệm về đầu tư và dự án đầu tư Theo Luật Đầu tư năm 2020, định nghĩa về đầu tư kinh doanh như sau: “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh.” Như vậy, đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội. 6 “Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định. Các đặc điểm cơ bản của dự án đầu tư * Có mục đích và kết quả xác định Bất kể là dự án đầu tư bạn xây dựng thuộc lĩnh vực nào, thời gian thực hiện là bao lâu, chi phí ước tính như thế nào,…thì cũng đều phải có mục đích rõ ràng và những mục tiêu cụ thể. Mục tiêu đầu tư cũng là một trong những nội dung quan trọng được thể hiện trong đề xuất dự án đầu tư nộp kèm với hồ sơ xin quyết định chủ trương đầu tư.
Chính vì vậy, để được xét duyệt dự án, thì người việc chuẩn bị về kinh phí, đội ngũ nguồn nhân lực, chủ đầu tư phải đặt ra những mục tiêu cụ thể phù hợp với tiến trình thực hiện dự án. * Có thời gian tồn tại hữu hạn Một dự án đầu tư khi xây dựng có thể là dự án ngắn hạn hay dài hạn. Và dù là thời gian thực hiện dài hay ngắn thì chúng đều hữu hạn. Cụ thể, Điều 44 Luật Đầu tư 2020 có quy định về thời hạn hoạt động của dự án đầu tư như sau: - Thời hạn hoạt động của dự án đầu tư trong khu kinh tế không quá 70 năm.
- Thời hạn hoạt động của dự án đầu tư ngoài khu kinh tế không quá 50 năm. Dự án đầu tư thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn hoặc dự án có vốn đầu tư lớn nhưng thu hồi vốn chậm thì thời hạn dài hơn nhưng không quá 70 năm. * Sản phẩm của dự án đầu tư mang tính độc đáo Sản phẩm và dịch vụ do dự án đem lại là duy nhất, hầu như không lặp lại. Tuy nhiên, ở nhiều dự án khác, tính duy nhất ít rõ ràng hơn do tính tương tự giữa chúng.
Nhưng điều khẳng định là chúng vẫn có thiết kế khác nhau, vị trí khác nhau, khách hàng khác… Điều ấy cũng tạo nên nét duy nhất, độc đáo, mới lạ của dự án. 7 * Dự án có thể chuyển nhượng được Nhà đầu tư có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án đầu tư cho nhà đầu tư khác khi đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Điều 46 Luật đầu tư 2014. Cụ thể: - Không thuộc một trong các trường hợp bị chấm dứt hoạt động. - Đáp ứng điều kiện đầu tư áp dụng đối với nhà đầu tư nước ngoài trong trường hợp nhà đầu tư nước ngoài nhận chuyển nhượng dự án thuộc ngành, nghề đầu tư có điều kiện áp dụng đối với nhà đầu tư nước ngoài.
- Tuân thủ các điều kiện theo quy định của pháp luật về đất đai, pháp luật về kinh doanh bất động sản trong trường hợp chuyển nhượng dự án gắn với chuyển nhượng quyền sử dụng đất. - Điều kiện quy định tại Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc theo quy định khác của pháp luật có liên quan (nếu có). * Tính bất định và rủi ro cao Hầu hết các dự án đòi hỏi quy mô tiền vốn, vật tư và lao động rất lớn để thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định. Mặt khác, thời gian đầu tư và vận hành kéo dài nên các dự án đầu tư phát triển thường có độ rủi ro cao.
Tuy nhiên các dự án không chịu cùng một mức độ không chắc chắn, nó phụ thuộc vào: Tầm cỡ của dự án, mức độ hao mòn của dự án, công nghệ được sử dụng, mức độ đòi hỏi của các ràng buộc về chất lượng, thời gian, chi phí, tính phức tạp và tính không thể dự báo được của môi trường dự án… 1.2 Tổng quan về đầu tư xây dựng công trình 1.1 Khái niệm đầu tư xây dựng “Đầu tư xây dựng là việc bố trí vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định.2 Vị trí và vai trò của đầu tư xây dựng công trình 8 “Đầu tư xây dựng có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển của bất kỳ hình thức kinh tế nào, nó tạo ra những cơ sở vật chất kỹ thuật - nền tảng cho sự phát triển của xã hội.” (Nguyễn Văn Chiến, 2014) Đầu tư xây dựng cơ bản giúp hình thành các công trình với thiết bị công nghệ hiện đại, tạo ra những cơ sở hạ tầng ngày càng hoàn thiện đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước và đóng vai trò quan trọng trong mọi mặt kinh tế, chính trị - xã hội và quốc phòng - an ninh. Đối với một nước đang phát triển thì việc quản lý hiệu quả các dự án xây dựng là cực kỳ quan trọng, giúp hạn chế gây ra lãng phí và thất thoát những nguồn lực vốn đã rất hạn hẹp.3 Sản phẩm của đầu tư xây dựng công trình “Sản phẩm đầu tư xây dựng là các công trình xây dựng đã hoàn thành, là kết tinh của các thành quả khoa học - công nghệ và tổ chức sản xuất của toàn xã hội ở một thời kỳ nhất đinh. Nó là một sản phẩm có tính chất liên ngành, trong đó những lực lượng tham gia chế tạo sản phẩm chủ yếu: các chủ đầu tư, các doanh nghiệp nhận thầu xây lắp, các doanh nghiệp tư vấn xây dựng, các doanh nghiệp sản xuất thiết bị công nghệ, vật tư thiết bị xây dựng, các doanh nghiệp cung ứng, các tổ chức dịch vụ ngân hàng và tài chính, các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan. Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình 1.
Khái niệm quản lý dự án đầu tư xây dựng “Quản lý dự án đầu tư trong xây dựng là tập hợp những tác động của nhà nước, chủ đầu tư đến toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng kể từ bước xác định dự án đầu tư xây dựng đến khi thực hiện dự án tạo ra công trình bàn giao đưa vào sử dụng để đạt được mục tiêu đầu tư đã xác định” (Trần Thủy Như, 2014). Nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng 1. Nguyên tắc quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình * Đối với các dự án sử dụng mọi nguồn vốn “Việc đầu tư xây dựng công trình phải được cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền cho phép đầu tư. Dự án đầu tư xây dựng phải phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành, hoạch xây dựng được duyệt và các quy định khác của pháp luật có liên quan” (Trần Thủy Như, 2014).
10 * Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước “Nhà nước quản lý toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng từ việc xác định chủ trương đầu tư, lập dự án, quyết định đầu tư, thiết kế, dự toán, lựa chọn nhà thầu, thi công xây dựng đến khi nghiệm thu, bàn giao và đưa công trình vào khai thác sử dụng” (Trần Thủy Như, 2014). * Đối với các dự án sử dụng vốn nhà nước “Đối với dự án của doanh nghiệp sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước thì Nhà nước chỉ quản lý về chủ trương và quy mô đầu tư. Doanh nghiệp có dự án tự chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và quản lý dự án theo các quy định” (Trần Thủy Như, 2014). “Đối với dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước, Nhà nước chỉ quản lý về chủ trương đầu tư.
Doanh nghiệp có dự án tự chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và quản lý dự án theo quy định của pháp luật” (Trần Thủy Như, 2014). Các chủ thể tham gia quản lý dự án đầu tư xây dựng Quá trình quản lý đầu tư và xây dựng của một dự án có sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau. Nguồn: Nguyễn Thị Kiều Anh Hình 1.1: Các chủ thể tham gia quản lý dự án đầu tư xây dựng 11 * Chủ đầu tư Theo Điều 4 Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính Phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng, tùy theo đặc điểm tính chất công trình và nguồn vốn mà chủ đầu tư được quy định cụ thể như sau: Đối với dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư, chủ đầu tư là cơ quan, tổ chức, đơn vị được Thủ tướng Chính phủ giao. Chủ đầu tư thực hiện thẩm quyền của người quyết định đầu tư xây dựng, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng công trình.