Chương 1 luận văn đã khái quát những vấn đề cơ bản về kinh tế trang trại và hiệu quả kinh tế. Mặc dù trong chế độ báo cáo thống kê Nông, lâm nghiệp và Thuỷ sản, chỉ tiêu thống kê về trang trại còn quá ít và chưa chuẩn để có thể thống kê được hiệu quả kinh tế trang trại nhưng luận văn đã cố gắng lựa chọn và hệ thống hoá các chỉ tiêu thống kê cho phù hợp với hướng phân tích. Trong chương 2, luận văn đã xác định một sổ phương pháp thống kê và đặc điểm của nó khi phân tích cụ thể vào hiệu quả kinh tế trang trại. Trên cơ sở hệ thống chỉ tiêu thống kê và một số phương pháp xác định tại chương 2, phân tíc h tạ i chư ơn g 3 cho th ấ y rõ hiệ u quả k in h tế tran g trạ i ở V iệ t N am tro n g g ia i đoạn 2000-2005.
Từ kết quả nghiên cứu, luận văn đã đưa ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại ở nước ta. Đây là một vấn đề quan trọng nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh và bảo vệ thương hiệu của nông sản Việt Nam trên trường quốc tế. COINS'----------- TRẦN T H Ị THƯ NGHIÊN cúu THỐNG KÊ HIỆU QUẢ KINH TẾ TRANG TRẠI CỦA VIỆT NAM GIAI BQẠN 2000-2005 C h u y ên n g àn h : T h ố n g kê L U Ậ N V Ă N T H Ạ C s ĩ K IN H T Ê NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGƯYẺN c ô n g NHự H à Nội - 2007 1 M Ở ĐẦU 1. S ự cần th iế t n g h iê n c ứ u đề tà i Trong những năm gần đây, kinh tế trang trại phát triển mạnh ở hầu khắp các địa phưcmg trong cả nước, hình thành mô hình sản xuất mới trong nông nghiệp và nông thôn nước ta.
Sự phát triển của kinh tế trang trại đã góp phần quan trọng trong việc xoá đói giảm nghèo ở nhiều địa phương, nhiều trang trại đã vươn lên làm giàu về kinh tế, đồng thời làm phong phú thêm cảnh quan thiên nhiên, khơi dậy các nguồn lực cả về vật chất lẫn các kiến thức văn hoá bản địa góp phần đáng kể vào việc phủ xanh đất trổng đồi trọc ở trung du, miền núi và vùng cát ven biển, làm đẹp các thành phố, thị xã, thị trấn. Thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế, Việt Nam đã chủ trương chính sách mở cửa, đa phương hoá quan hệ kinh tế, tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế phát triển, khuyến khích người nông dân làm giàu. Chính vì vậy mô hình kinh tế trang trại đang ngày càng được phát huy và phát triển, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế, công nghiệp hoá-hiện đại hoá nông thôn. Kinh tế trang trại đã khẳng định sự tồn tại cũng như xu thế phát triển một loại hình kinh tế trong nông nghiệp và nông thôn, tận dụng quỹ đất, lao động, nguồn vốn trong dân, thông qua việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất bước đầu tạo được sản phẩm hàng hoá đáp ứng nhu cầu thị trường, góp phần thúc đẩy nông nghiệp nông thôn phát triển.
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế trang trại còn bộc lộ nhiều yếu kém. Nhận thức về vị trí vai trò kinh tế tập thể trong các ngành, các cấp và nông dân còn nhiều hạn chế, công tác quy hoạch chưa theo kịp với nhu cầu phát triển, vốn đầu tư ít, sản xuất còn nhỏ lẻ và chưa có hợp tác chặt chẽ trong quá trình sản xuất kinh doanh nên hiệu quả chưa cao, môi trường bị ô nhiễm. 2 Xuất phát từ tầm quan trọng của mô hình hoạt động kinh tế trang trại, việc nghiên cứu hiệu quả của nó là hết sức cần thiết, nhằm thực hiện chủ trương chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá gắn với thị trường. Điều này càng đặc biệt có ý nghĩa khi Việt Nam đang chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và mới đây đã được kết nạp vào Tổ chức Thương mại thế giới WTO.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài “Nghiên cứu thống kê hiệu quả kinh tế trang trại của Việt Nam giai đoạn 2000-2005” nhằm: - Làm rõ vai trò của hoạt động kinh tế trang trại ở Việt Nam hiện nay. - Phân tích tổng quát hiệu quả của kinh tế trang trại giai đoạn 2000-2005. - Đồ xuất một số ý kiến nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh tế trang trại. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đổi tượng nghiên cứu: Hiệu quả kinh tế trang trại của Việt Nam Phạm vỉ nghiên cw-w.Trang trại của Việt Nam trong giai đoạn 2000-2005 phân theo vùng kinh tế.
Phương pháp nghiên cứu Để phù hợp với mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp nghiên cứu của lý thuyết hệ thống đặc biệt là phương pháp nghiên cứu của thống kê học. Đó là các phương pháp phân tổ thống kê, phương pháp bảng và đồ thị thống kê, phương pháp dãy số thời gian, phương pháp chỉ số. Những đóng góp của đề tài - Chuẩn hoá khái niệm kinh tế trang trại, từ đó làm căn cứ để phân tích hiệu quả kinh tế trang trại của Việt Nam giai đoạn 2000-2005. - Lựa chọn hệ thống chỉ tiêu thống kê và phương pháp thống kê phân tích hiệu quả kinh tế trang trại.
- Đe xuất các kiến nghị và giải pháp cho các cấp, các ngành để quản lý và nâng cao hiệu quả kinh tế của trang trại ở Việt Nam hiện nay. Kết cẩu của luận văn Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có ba chương sau: Chương 1'.Một sổ lỷ luận cơ bản về kinh tể trang trại và hiệu quả kinh tế Chương 2 :Lựa chọn hệ thống chỉ tiêu thống kê và một sổ phương pháp thống kê phân tích hiệu quả kinh tể trang trại Chương 3 '.Phân tích thống kê hiệu quả kinh tế trang trại ở Việt Nam giai đoạn 2000-2005 4 CHƯƠNG 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN C ơ BẢN VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI VÀ HIỆU QUẢ KINH TÉ 1. Tổng quan về kinh tế trang trại 1. Khái niệm trang trại Trong lịch sử phát triển nông nghiệp của các nước đã từng tồn tại những hĩnh thức sản xuất nông nghiệp mang tính tập trung được tiến hành trên những diện tích ruộng đất đủ lớn để sản xuất ra khối lượng nông sản phẩm lớn hơn so với hình thức sản xuất nông nghiệp phân tán trên những diện tích ruộng đất nhỏ.
Thời phong kiến ở Châu Ầu có lãnh địa phong kiến và trang viên, ở Trung Quốc có hoàng trang, điền trang, gia trang, đồn điền, ở Việt Nam thời Lý, Trần có điền trang, thái ấp, thòi Lê, Nguyễn có đồn điền. Những hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung thời phong kiến có mục đích sản xuất chủ yểu là tạo ra nhiều nông sản phẩm để thoả mãn tối đa nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của những người chủ. Trao đổi sản phẩm rất hạn chế, kỹ thuật sản xuất còn thấp, v ề sở hữu, một số hình thức dựa trên sở hữu nhà nước (hoàng trang, đồn điền ở Trung Quốc, đồn điền ở Việt Nam), một sổ hình thức dựa trên sở hữu riêng của một người chủ (trang viên ở Châu Âu, điền trang, gia trang ở Trung Quốc, điền trang, thái ấp ở Việt Nam). Ngày nay, các nước đều có những thuật ngữ để chỉ hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung với mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá.
Trong tiếng Việt, thuật ngữ để chỉ hình thức sản xuất nông nghiệp nói trên là “trang trại” hay “nông trại”. Theo những tư liệu nước ngoài thì có thể hiểu trang trại hay nông trại là những khu đất tương đối lớn, ở đó sản xuất nông nghiệp được tiến hành có tổ chức dưới sự điều hành của một người chủ mà phần đông là chủ gia đình nông dân, bao gồm cả nông dân lĩnh canh trong giai đoạn nông 5 nghiệp đi vào sản xuất hàng hoá. Từ đó có thể thấy rằng “trang trại” hay “nông trại” là thuật ngữ chỉ hình thức sản xuất nông nghiệp mang tính tập trung trên một diện tích đủ lớn nhằm sản xuất nông sản phẩm hàng hoá với quy mô gia đình là chủ yếu. Như vậy có thể hiểu khái niệm về trang trại như sau: Trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, ngư nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoả, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yểu tổ sản xuất được tập trung đủ lớn với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường.Những đặc điểm cơ bản của kinh tế trang trại Đặc trưng của kinh tế trang trại là những điều khác biệt của kinh tế trang trại so với các hình thức kinh tể cơ sở khác trong nông, lâm, ngư nghiệp.
Từ khái niệm kinh tế trang trại đã trình bày ở trên có thể thấy rằng, kinh tế trang trại mang những đặc trưng sau: - Mục đích trực tiếp của kinh tể trang trại là sản xuất nông sản phẩm hàng hoá theo nhu cầu của thị trường. Sản xuất tự cấp tự túc là vốn có của kinh tể nông hộ. Trong điều kiện kinh tế thị trường, các hộ nông dân muốn có thu nhập cao, muốn làm giàu thì phải thoát khỏi tự cấp tự túc và từng bước chuyển sang sản xuất hàng hoá theo phương thức trang trại. Các trang trại gia đình hầu hết đều đi lên từ kinh tế hộ nông dân khi kinh tế hộ phá vỡ vỏ bọc tự cấp tự túc vốn có để phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá.
Quá trình hình thành và phát triển của kinh tế trang trại gia đình là quá trình nâng cao tính chất và trình độ sản xuất hàng hoá, đồng thời là quá trình thu hẹp tính chất sản xuất trực tiếp tự cấp tự túc của kinh tế nông hộ. Như vậy, kinh tế trang trại ngay từ khi ra đời đã mang 6 tính hàng hóa và trình độ sản xuất hàng hoá ngày càng được nâng cao. Sản xuất hàng hoá là đặc trưng quan trọng nhất của kinh tế trang trại vì đặc trưng sản xuất hàng hoá chi phối và ảnh hưởng rất lớn, thậm chí quyết định các đặc trưng khác của kinh tế trang trại.