Đặt vấn đề Đất là tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người, là điều kiện tồn tại và phát triển của con người và tất cả các sinh vật khác trên trái đất; là một tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng. Đất đai đóng vai trò quan trọng trong mọi quá trình sản xuất của các ngành kinh tế và hoạt động của con người. Đặc biệt, trong sản xuất nông nghiệp đất là tư liệu sản xuất không thể thay thế được. Hầu hết các nước trên thế giới đều xây dựng một nền kinh tế trên cơ sở phát triển nông nghiệp dựa vào khai thác tiềm năng của đất, lấy đó làm cơ sở cho sự phát triển của các ngành khác.
Song đất đai lại là nguồn tài nguyên không thể tái tạo được, nó cố định về vị trí, hạn chế về số lượng và giới hạn về diện tích. Thời kì công nghiệp hóa - hiện đại hóa con người chỉ chú trọng phát triển các ngành công – dịch vụ mà quên mất ngành nông nghiệp truyền thống, ngành tạo ra lương thực thực phẩm nuôi sống con người. Việc phát triển cơ sở hạ tầng, các khu dự án, nhà máy công nghiệp đã làm giảm diện tích đất nông nghiệp cùng với sự tác động của thiên tai và quá trình canh tác của con người đã làm cho đất ngày càng suy thoái. Do đó, việc tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất hợp lý đầy đủ và đem lại hiệu quả cao theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn đề cấp thiết của xã hội.
Mỗi quốc gia, mỗi địa phương có một quỹ đất đai khác nhau, vị trí địa lý, địa hình, khí hậu khác nhau; vì vậy tính chất ở mỗi nơi là không giống nhau, điều đó đã tạo sự khác nhau cũng như đặc trưng về nền nông nghiệp cho từng vùng, từng quốc gia “sự phát triển thần kỳ” về nông nghiệp. Bất chấp điều kiện địa lý khá phức tạp cho nông nghiệp, Nhật Bản là một nhà xuất khẩu lớn của 2 thế giới về nông sản và đứng hàng đầu về công nghệ trong nông nghiệp. nông nghiệp đã cung cấp 70% lượng nông sản xuất khẩu cho Nhật Bản.Sự phát triển thần kỳ của đất nước Nhật Bản như một bài học quý, tạo động lực mạnh mẽ để sinh viên, thế hệ trẻ của Việt Nam không ngừng quyết tâm rèn luyện, học tập nhiều hơn nữa đặc biệt là ở tại những quốc gia tiên tiến trên thế giới, áp dụng những kỹ thuật hiện đại vào phát triển kinh tế đất nước, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp. Được sự đồng ý của khoa Quản lý đất đai trường đại học Nông lâm Thái Nguyên, đồng thời dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo Ts.
Vũ Thị Thanh Thủy, em tiến hành nghiên cứu đề tài “Hiệu quả kinh tế của một số mô hình sản xuất kinh tế tại làng Kawakami mura Nhật Bản” 1. Mục tiêu nghiên cứu - Thực trạng sản xuất rau xà lách tại làng Kawakami. - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội tại trang trại Mashahito Shinohara. - Tìm ra các giải pháp trong sử dụng đất nông nghiệp ứng dụng được ở Việt Nam.
Ý nghĩa nghiên cứu 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Áp dụng kiến thức đã học của nhà trường làm quen với thực tế. - Nâng cao kiến thức thực tế. - Tích luỹ được kinh nghiệm phục vụ cho công việc sau này.
- Bổ sung tư liệu cho học tập. Ý nghĩa thực tiễn - Để góp phần bảo vệ bền vững và hiệu quả đất nông nghiệp thì công tác xây dựng báo cáo hiện trạng đất sản xuất là rất cần thiết, nhằm giúp cho chủ trang trại, các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách về kinh tế, về đất đai chủ động nắm vững diễn biến đất nông nghiệp tại từng nơi, từng khu vực. 3 - Biết được mặt mạnh, mặt yếu kém, những khó khăn và tồn tại trong công tác quản lý, sử dụng tài đất nông nghiệp ở trang trại. - Đề xuất một số giải pháp sử dụng đất hợp lí, hiệu quả sao cho phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của trang trại trên cơ sở phát triển bền vững.
4 Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về đất nước Nhật Bản 2. Giới thiệu chung Hình 1.1: Sơ đồ về đất nước Nhật Bản Dân số: 127 triệu người (năm 2010), xếp thứ 10 trên thế giới Thể chế: quân chủ lập hiến và cộng hoà đại nghị Thủ đô: Tokyo Các thành phố lớn: thủ đô Tokyo, Nagoya, Osaka, Fukuoka, Hiroshima, Sapporo, Kyoto, Naha. Đơn vị tiền tệ: đồng Yên Nhật (JPY), 1JPY ~ 270 VND GDP bình quân: đứng thứ 2 trên thế giới Quốc kỳ: có tên là Nisshoki hay còn được gọi là Hinomaru (vầng mặt trời) 5 Quốc ca: tên gọi là Kimi Ga Yo Quốc hoa: Hoa anh đào (sakura) được mệnh danh là “hồn hoa xứ Phù Tang”) Bốn hòn đảo chính: Hokkaido, Honshu, Kyushu và Okinawa.
Điều kiện tự nhiên 2. Vị trí địa lí Nhật Bản nằm ở phía Đông của châu Á, phía Tây của Thái Bình Dương, do bốn quần đảo độc lập hợp thành. Bốn quần đảo đó là: quần đảo Kuril (Nhật Bản gọi là quần đảo Chishima), quần đảo Nhật Bản, quần đảo Ryukyu, và quần đảo Izu-Ogasawara. Những quốc gia và lãnh thổ lân cận ở vùng biển Nhật Bản là Nga, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc; ở vùng biển Đông Hải là Trung Quốc, Đài Loan; đi xa hơn về phía Nam là Philippines và quần đảo Bắc Mariana.
Vì là một đảo quốc, nên xung quanh Nhật Bản toàn là biển. Nhật Bản không tiếp giáp quốc gia hay lãnh thổ nào trên đất liền. Tuy nhiên, bán đảo Triều Tiên và bán đảo Sakhalin (Nhật Bản gọi là Karafuto) chỉ cách các đảo chính của Nhật Bản vài chục km. Xét theo kinh độ và vĩ độ, các điểm cực của Nhật Bản như sau: Điểm cực Đông: 24°16′59″B 153°59′11″Đ.
Điểm cực Tây: 24°26′58″B 122°56′1″Đ. Điểm cực Bắc: 45°33′21″B 148°45′14″Đ. Điểm cực Nam: 20°25′31″B 136°04′11″Đ. Trên biển, Nhật Bản có vùng đặc quyền kinh tế với đường viền danh nghĩa cách bờ biển 200 hải lý, song trên thực tế ở các vùng biển Nhật Bản và biển Đông Hải thì phạm vi hẹp hơn nhiều do đây là các biển chung.
Tương tự, vùng lãnh hải của Nhật Bản không phải hoàn toàn có đường viền cách bờ biển 12 hải lý. Đường bờ biển của Nhật Bản có tổng chiều dài là 33.889 km 6 Nhật Bản có vị trí nằm ở phía Đông của châu Á, phía Tây của Thái Bình Dương. Phần chính của Nhật Bản được cấu thành từ bốn đảo lớn là Hokkaido, Honshu, Shikoku và Kyushu.944 km², đứng hàng 62 trên thế giới. ・ Biển của Nhật Bản có tổng chiều dài là 33.
Nhật Bản là một đảo quốc hoàn toàn không tiếp giáp với quốc gia hay lãnh thổ nào trên đất liền. Tuy nhiên, bán đảo Triều Tiên và bán đảo Sakhalin (Nhật Bản gọi là Karafuto) chỉ cách các đảo chính của Nhật Bản vài chục km. Xung quanh Nhật Bản là một loạt các biển thông nhau. + Phía Đông và phía Nam: Thái Bình Dương.
+ Phía Tây Bắc: Biển Nhật Bản. + Phía Tây: Biển Đông Hải. + Phía Đông Bắc: Biển Okhotsk. + Vùng biển xung quanh các quần đảo Izu, Ogasawara, Nansei: biển Philippines theo cách gọi của thế giới, song các văn kiện của chính phủ Nhật Bản vẫn chỉ gọi đó là Thái Bình Dương.
+ Vùng biển nằm giữa Honshu và Shikoku gọi là biển Seito Naikai. Những quốc gia và lãnh thổ lân cận ở vùng biển Nhật Bản là Nga, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc; ở vùng biển Đông Hải là Trung Quốc, Đài Loan; đi xa hơn về phía Nam là Philippines và quần đảo Bắc Mariana. Xét theo kinh độ và vĩ độ, các điểm cực của Nhật Bản như sau: + Điểm cực Đông: Đảo Minami Tori-shima + Điểm cực Tây: Mũi Irizaki + Điểm cực Nam: Đảo Okino Tori-shima + Điểm cực Bắc: Mũi Kamoiwakka (hiện đang trong tình trạng tranh chấp, vì cả Nhật và Nga đều tuyên bố chủ quyền với đảo Iturup (trong tiếng Nhật là Etorofu-to) 7 + Nơi cao nhất Nhật Bản: Núi Phú Sĩ (cao 3.776m) + Thấp nhất Nhật Bản: Hachinohe mine (sâu 160m do nhân tạo) và hồ Hachirogata (sâu 4m một cách tự nhiên) Các quần đảo của Nhật Bản hình thành do các đợt vận động tạo núi và có từ cách đây lâu nhất là 2,4 triệu năm nên xét về mặt địa chất học, như vậy là rất trẻ. Do đó, Nhật Bản có đặc trưng tự nhiên là nhiều núi lửa và động đất.
Mỗi năm Nhật Bản chịu khoảng 1.000 trận động đất. Các hoạt động địa chấn này đặc biệt tập trung vào vùng Kanto. Động đất cấp 3, 4 xảy ra thường xuyên và cấp 7 - 8 cũng đã từng xảy ra. Động đất là mối đe dọa lớn nhất đối với Nhật Bản nên chính phủ Nhật mỗi năm đã phải bỏ ra hàng tỉ Yên Nhật để tìm kiếm một hệ thống báo động sớm về động đất, và khoa học địa chấn tại Nhật Bản được coi là tiến bộ nhất trên thế giới.
Nhật Bản có 186 núi lửa còn hoạt động trong đó có núi Phú Sĩ. Đi kèm với núi lửa là các suối nước nóng cũng có rất nhiều ở Nhật Bản. Địa hình, địa mạo Có thể gọi Nhật là một Sơn quốc nghĩa là một quốc gia của núi. Dù nhỏ hơn bang California của Mỹ, 67% địa hình của Nhật là núi, chỉ có 13% địa hình là đồng bằng.
Các dòng sông bắt nguồn từ những địa hình núi đó tạo ra nhiều thung lũng và làm cho địa hình biến đổi rất phong phú. Ở các cửa sông, các đồng bằng hình cánh quạt được tạo ra nhưng trừ các đồng bằng Kanto (Quan Đông), đồng bằng Osaka, đồng bằng Nobi ra, tất cả đều là đồng bằng nhỏ. Bờ biển Nhật Bản cực kì dài, khoảng 34 nghìn km. Sự phức tạp trong việc hình thành bờ biển làm cho phong cảnh trở nên đẹp một cách hùng vĩ từ vùng này tới vùng khác 2.3 Khí hậu, thủy văn Khí hậu Nhật Bản là quốc gia với hơn ba nghìn đảo trải dài dọc biển Thái Bình Dương của ChâuÁ.Các đảo chính chạy từ Bắc tới Nam bao gồm Hokkaidō, Honshū (đảo chính), Shikoku và Kyūshū.
Quần đảo Ryukyu, 8 bao gồm Okinawa, là một chuỗi các hòn đảo phía nam Kyūshū. Cùng với nhau, nó thường được biết đến với tên gọi "Quần đảo Nhật Bản". Khoảng 70%-80% diện tích Nhật Bản là núi, loại hình địa lý không hợp cho nông nghiệp, công nghiệp và cư trú.