phần mở đầu và kết luận, luận văn có 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Phân tích thực trạng Chƣơng 4: Đề xuất các giải pháp, kiến nghị 3 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA TRANG TRẠI CHĂN NUÔI 1. Tổng quan các nghiên cứu liên quan 1.1 Nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh của trang trại chăn nuôi trên thế giới i). Morrison và Gunn (1983)[17] đã sử dụng phƣơng pháp phân tích chi phí và kết quả sản xuất, phƣơng pháp phân tổ thống kê để đánh giá Hiệu quả kinh doanh của 128 trang trại chăn nuôi ở bang Utah – Mỹ. Kết quả nghiên cứu cho thấy Hiệu quả kinh doanh trang trại chăn nuôi chịu sự ảnh hƣởng của các yếu tố nhƣ quy mô chăn nuôi, tỷ lệ chuyển đổi thức ăn thành thịt, tỷ lệ hao hụt, mùa vụ chăn nuôi và thời gian nuôi.
Ƣu điểm của nghiên cứu này là đã phân tích rõ Hiệu quả kinh doanh của trang trại chăn nuôi theo nhiều tiêu thức khác nhau, từ đó đƣa ra cơ sở khoa học để đề xuất với ngƣời chăn nuôi về quy mô, mùa vụ, thời gian nuôi nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất. Việc đánh giá Hiệu quả kinh doanh trang trại chăn nuôi từ cách nhìn đa chiều của Morrison và Gunn lcó thể kế thừa và vận dụng vào luận văn này. Tuy nhiên, nhƣợc điểm của nghiên cứu này là chƣa chỉ rõ cách tiếp cận, khung phân tích và chƣa định lƣợng đƣợc ảnh hƣởng các các yếu tố đến Hiệu quả kinh doanh trang trại chăn nuôi. ii) Ahmad và CTV (2008)[18], Adepoju (2008)[19] đã sử dụng phƣơng pháp phân tổ thống kê, phân tích ngân sách và các chỉ tiêu phân tích nhƣ TC, FC và VC, TR, lợi nhuận… để phân tích Hiệu quả kinh doanh trang trại chăn nuôi ở Nigeria và Pakistan.
Bên cạnh đó, bằng phƣơng pháp phân tích hồi quy, phƣơng pháp phân tích màng bao dữ liệu (DEA), các tác giã đã định lƣợng đƣợc ảnh hƣởng của các yếu tố đến Hiệu quả kinh doanh, đo lƣờng đƣợc hiệu quả kỹ thuật trong chăn nuôi để từ đó đề xuất các giải pháp nhằm năng cao Hiệu quả kinh doanh trang trại chăn nuôi. Phƣơng pháp phân tích định lƣợng của Ahmad và Adepoju có thể kế thừa, sử dụng vào luận văn này. Tuy nhiên, hệ thống chỉ tiêu tính toán chƣa phù hợp với thực trạng chăn nuôi ở Việt Nam hiện nay, nơi nhiều chủ trang trại còn tƣ tƣởng lấy công làm lãi và hoạt động chăn nuôi dựa nhiều vào nguồn lực tự có; nhiều trang trại 4 z có TSCĐ không lớn và rất khó xác định giá trị TSCĐ đã đầu tƣ vì những TSCĐ đó đƣợc sử dụng vào nhiều hoạt động khác nhau. Bên cạnh đó, Hiệu quả kinh doanh của các trang trại chăn nuôi chƣa đƣợc phân tích theo nhiều tiêu thức khác nhau, Hiệu quả kinh doanh trong điều kiện có rủi ro cũng chƣa đƣợc đề cập để thấy đƣợc bức tranh toàn cảnh về Hiệu quả kinh doanh của các trang trại chăn nuôi.
- Ahmad và Chohan (2008)[18] đã sử dụng phƣơng pháp phân tích ngân sách và hệ thống chỉ tiêu phân tích nhƣ của Adepoju để đánh giá Hiệu quả kinh doanh của 60 trang trại chăn nuôi ở vùng Jammu và Kashmir – Pakistan vào hai mùa vụ là mùa Đông và mùa Hè. Kết quả nghiên cứu cho thấy vào mùa Đông Hiệu quả kinh doanh trang trại chăn nuôi cao hơn do các trang trại có thể nuôi với mật độ cao hơn, quy mô lớn hơn và đặc biệt là có giá bán cao hơn. Tuy nhiên, nghiên cứu này không phân tích rõ Hiệu quả kinh doanh của các loại giống vật nuôi, hình thức nuôi hay theo vùng sinh thái. Kết quả nghiên cứu gợi ý rằng Hiệu quả kinh doanh của các trang trại chăn nuôi chịu sự ảnh hƣởng của khí hậu thời tiết từng mùa và biến động giá cả, do đó để nâng cao Hiệu quả kinh doanh của các trang trại chăn nuôi, ngƣời chăn nuôi cần nắm rõ quy luật khí hậu thời tiết và giá cả để đƣa ra các quyết định tối ƣu về thời điểm nuôi và mật độ nuôi.
iii) Begun (2005)[20] và Micah (2011)[21] khi nghiên cứu Hiệu quả kinh doanh và chuỗi cung sản phẩm vật nuôi của các trang trại có hợp đồng và không có hợp đồng tiêu thụ sản phẩm ở Bangladesh và Áo đã cho thấy rằng: Hiệu quả kinh doanh của các trang trại chăn nuôi của các trang trại có hợp đồng là cao hơn, do những trang trại này đã giảm thiểu đƣợc rủi ro từ biến động xấu của giá cả thị trƣờng, nhận đƣợc những tƣ vấn về kỹ thuật chăn nuôi, kinh nghiệm quản lý nên hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào là cao hơn; Chuỗi cung cả hai hệ thống đều sử dụng các đầu vào là giống nhau, tuy nhiên số lƣợng đầu vào của mỗi hệ thống là khác nhau. Về đầu ra, những cơ sở không có hợp đồng phải tự tiêu thụ sản phẩm và chủ yếu bán dƣới dạng tƣơi sống trực tiếp đến ngƣời tiêu dùng, hoặc thông qua những ngƣời bán lẻ và đặc biệt sản phẩm chăn nuôi của họ thƣờng không tiếp cận đƣợc các thị trƣờng đòi hỏi chất lƣợng cao nhƣ siêu thị. Trong khi đó, những trang 5 z trại có hợp đồng không phải lo khâu tiêu thụ, sản phẩm chăn nuôi của họ đƣợc các nhà máy mua và chế biến rồi bán trực tiếp đến ngƣời tiêu dùng, siêu thị hoặc xuất khẩu với giá bán cao hơn sản phẩm của những cơ sở không có hợp đồng. Nghiên cứu của Begun và Micah gợi ý rằng trong chăn nuôi sự hợp tác, liên kết giữa ngƣời chăn nuôi với các cơ sở cung cấp các yếu tố đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra đóng vai trò rất quan trọng để nâng cao Hiệu quả kinh doanh, vì theo các tác giả điều này giúp cho ngƣời chăn nuôi chủ động hơn trong hoạt động chăn nuôi, tiếp cận các yếu tố đầu vào dễ và đảm bảo chất lƣợng hơn, tiếp cận các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới nhanh hơn và đặc biệt là giảm thiểu đƣợc rủi ro do dịch bệnh và biến động của giá cả thị trƣờng nhờ đƣợc chia sẽ những khó khăn này với các đối tác.
Các nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh của các trang trại chăn nuôi ở Việt Nam i) Nghiên cứu của Lê Nhƣ Tuấn (1994)[22], Nguyễn Văn Đức và Trần Long (2008)[23] hay của Lê Văn Thắng 2011[24] đã sử dụng phƣơng pháp mô tả thống kê, phƣơng pháp hạch toán chi phí và kết quả sản xuất và hệ thống chỉ tiêu đánh giá dựa trên hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) để đánh giá hiệu quả kinh doanh của các trang trại chăn nuôi ở Miền Bắc Việt Nam. Ƣu điểm của những nghiên cứu này là đã đánh giá và so sánh đƣợc Hiệu quả kinh doanh của các trang trại chăn nuôi theo một số tiêu thức khác nhau nhƣ: quy mô, hình thức và thời gian nuôi, từ đó rút ra đƣợc những nhận định quan trọng là: trong cấu thành chi phí chăn nuôi thì thức ăn chiếm tỷ trọng lớn nhất (gần 70%), tiếp theo là chi phí giống và chi phí thú y; Hiệu quả kinh doanh của các trang trại chăn nuôi theo hình thức bán công nghiệp cao hơn hình thức công nghiệp, quy mô chăn nuôi vừa cao hơn quy mô nhỏ, Nhƣng hạn chế của các nghiên cứu này là chƣa định lƣợng đƣợc ảnh hƣởng của các yếu tố đến Hiệu quả kinh doanh của các trang trại chăn nuôi, chƣa phân tích Hiệu quả kinh doanh trong điều kiện có rủi ro và chƣa đề cập hiệu quả kỹ thuật trong chăn nuôi. ii) Nghiên cứu của Đinh Xuân Tùng (2012)[25] và Nguyễn Quốc Nghi (2011)[24] đã sử dụng phƣơng pháp phân tích hiệu quả tài chính, phƣơng pháp hồi quy tuyến tính đa biến để phân tích Hiệu quả kinh doanh cũng nhƣ ảnh hƣởng của 6 z các yếu tố kinh tế - xã hội đến Hiệu quả kinh doanh của các trang trại chăn nuôi. Ƣu điểm của các nghiên cứu này là đã sử dụng phƣơng pháp phù hợp để định lƣợng ảnh hƣởng các các yếu tố đến Hiệu quả kinh doanh của các trang trại chăn nuôi, từ đó có cơ sở khoa học để đề xuất các khuyến nghị, giải pháp nhằm nâng cao.
Tuy nhiên, hạn chế của các nghiên cứu này là chƣa phân tích và so sánh đƣợc Hiệu quả kinh doanh của các trang trại chăn nuôi theo các tiêu thức khác nhau vì thế chƣa đƣa ra đƣợc cơ sở khoa học cho khuyến nghị ngƣời chăn nuôi nên nuôi giống gì, nuôi theo hình thức nào?…; chƣa nghiên cứu Hiệu quả kinh doanh trong điều kiện rủi ro do biến động của giá cả thị trƣờng và tình hình dịch bệnh để thấy đƣợc khả năng tồn tại và phát triển của ngành chăn nuôi trong môi trƣờng khó tiên liệu hiện nay. Bên cạnh đó, các phƣơng pháp tiếp cận, khung phân tích hay hiệu quả kỹ thuật cũng chƣa đƣợc đề cập. D (2008)[25] khi nghiên cứu chuỗi cung thịt hơi ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam đã thấy rằng: Hoạt động chăn nuôi gặp nhiều khó khăn do một số đầu vào có giá cao và khó tiếp cận; mối quan hệ mua – bán giữa các tác nhân trong chuỗi cung thƣờng đƣợc thoả thuận bằng miệng, không có sự rằng buộc về mặt pháp lý vì thế không có sự chia sẽ rủi ro giữa các tác nhân; quy mô sản xuất nhỏ, các trang trại chăn nuôi nằm phân tán và thiếu sự liên kết với nhau đã hạn chế ngƣời chăn nuôi trong việc lựa chọn kênh tiêu thụ và điều này đã ảnh hƣởng đến giá bán của ngƣời chăn nuôi; ngƣời tiêu dùng thích sử dụng sản phẩm dƣới dạng tƣơi sống hơn là đóng gói và đặc biệt các giống vật nuôi địa phƣơng có giá cao gấp đôi so với các giống gà công nghiệp. Nghiên cứu này chƣa đề cập sâu về Hiệu quả kinh doanh nhƣng đã gợi ý một số vấn đề rằng: giá cả và sự sẵn có của các yếu tố đầu vào có ảnh hƣởng đến hoạt động chăn nuôi và Hiệu quả kinh doanh; sự hợp tác lỏng lẽo, không có sự ràng buộc bằng pháp lý giữa các tác nhân trong chuỗi cung đã làm cho hoạt động chăn nuôi gặp nhiều rủi ro; quy mô chăn nuôi, sự hợp tác giữa ngƣời chăn nuôi có ảnh hƣởng đến lựa chọn kênh tiêu thụ, giá bán và Hiệu quả kinh doanh; sở thích của ngƣời tiêu dùng ảnh hƣởng đến giá bán vì thế việc lựa chọn giống vật nuôi phù hợp 7 z với thị hiếu của ngƣời tiêu dùng có ảnh hƣởng lớn Hiệu quả kinh doanh của các trang trại chăn nuôi.
Nhận xét chung.