Hiệu Quả Xóa Đói Giảm Nghèo Của Chương Trình 135 Tại Tỉnh Sơn La Giai Đoạn 2011 - 2015

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hiệu quả xóa đói giảm nghèo của chương trình 135 giai đoạn 2011 2015 ở tỉnh sơn la, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Quản lý Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

99
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Hiệu Quả Chương Trình 135 Trong Xóa Đói Giảm Nghèo

Chương trình 135 là một trong những chính sách quan trọng của Nhà nước Việt Nam nhằm xóa đói giảm nghèo cho các xã đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Giai đoạn 2011-2015, chương trình đã được triển khai tại tỉnh Sơn La, nơi có nhiều thách thức về phát triển kinh tế - xã hội. Hiệu quả của chương trình không chỉ được đo bằng các chỉ số kinh tế mà còn qua sự cải thiện đời sống của người dân. Nghiên cứu này sẽ phân tích những kết quả đạt được và những vấn đề còn tồn tại trong quá trình thực hiện.

1.1. Chương Trình 135 Mục Tiêu Và Đối Tượng Hướng Tới

Chương trình 135 được thiết kế nhằm hỗ trợ các xã đặc biệt khó khăn, nơi có tỷ lệ hộ nghèo cao. Đối tượng chính là các hộ dân tộc thiểu số, những người sống trong điều kiện khó khăn về kinh tế và xã hội. Mục tiêu của chương trình là nâng cao đời sống, cải thiện cơ sở hạ tầng và tạo điều kiện cho người dân tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

1.2. Tình Hình Nghèo Đói Tại Sơn La Trước Khi Triển Khai Chương Trình 135

Trước khi chương trình 135 được triển khai, tỉnh Sơn La là một trong những địa phương có tỷ lệ nghèo đói cao nhất cả nước. Nhiều xã và bản gặp khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục và cơ sở hạ tầng. Tình trạng này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân, đặc biệt là các dân tộc thiểu số.

II. Những Thách Thức Trong Quá Trình Thực Hiện Chương Trình 135

Mặc dù chương trình 135 đã đạt được nhiều kết quả tích cực, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong quá trình thực hiện. Các vấn đề như thiếu nguồn lực, sự phối hợp giữa các cấp chính quyền và sự tham gia của cộng đồng là những yếu tố cần được cải thiện. Đánh giá đúng thực trạng và tìm ra giải pháp phù hợp là rất cần thiết để nâng cao hiệu quả chương trình.

2.1. Thiếu Nguồn Lực Tài Chính Và Nhân Lực

Một trong những thách thức lớn nhất là thiếu nguồn lực tài chính và nhân lực để triển khai các hoạt động của chương trình. Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước và các tổ chức phi chính phủ chưa đủ để đáp ứng nhu cầu thực tế tại các xã khó khăn.

2.2. Sự Phối Hợp Giữa Các Cấp Chính Quyền

Sự phối hợp giữa các cấp chính quyền trong việc triển khai chương trình còn hạn chế. Nhiều địa phương chưa có sự đồng bộ trong việc thực hiện các chính sách, dẫn đến tình trạng chồng chéo và lãng phí nguồn lực.

III. Phương Pháp Đánh Giá Hiệu Quả Chương Trình 135

Để đánh giá hiệu quả của chương trình 135, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học, bao gồm phân tích định lượng và định tính. Việc thu thập dữ liệu từ các hộ gia đình, tổ chức xã hội và chính quyền địa phương sẽ giúp có cái nhìn tổng quan về tác động của chương trình.

3.1. Phân Tích Định Lượng Các Chỉ Số Kinh Tế

Phân tích định lượng sẽ tập trung vào các chỉ số như tỷ lệ hộ nghèo, thu nhập bình quân đầu người và mức độ tiếp cận các dịch vụ xã hội. Những số liệu này sẽ giúp đánh giá rõ ràng hơn về hiệu quả của chương trình.

3.2. Phân Tích Định Tính Từ Cộng Đồng

Phân tích định tính sẽ dựa vào ý kiến của người dân và các tổ chức xã hội. Việc thu thập thông tin từ cộng đồng sẽ giúp hiểu rõ hơn về những thay đổi trong đời sống và tâm lý của người dân sau khi chương trình được triển khai.

IV. Kết Quả Đạt Được Từ Chương Trình 135 Tại Sơn La

Chương trình 135 đã mang lại nhiều kết quả tích cực cho tỉnh Sơn La trong giai đoạn 2011-2015. Nhiều xã đã được đầu tư cơ sở hạ tầng, cải thiện điều kiện sống và nâng cao nhận thức của người dân về các chính sách xã hội. Tuy nhiên, vẫn cần tiếp tục theo dõi và đánh giá để đảm bảo tính bền vững của các kết quả này.

4.1. Cải Thiện Cơ Sở Hạ Tầng Tại Các Xã Khó Khăn

Nhiều xã đã được đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như đường giao thông, trường học và trạm y tế. Những cải thiện này đã giúp người dân dễ dàng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu.

4.2. Nâng Cao Nhận Thức Của Người Dân

Chương trình cũng đã góp phần nâng cao nhận thức của người dân về các chính sách xóa đói giảm nghèo. Người dân đã chủ động tham gia vào các hoạt động phát triển kinh tế và xã hội tại địa phương.

V. Kết Luận Và Đề Xuất Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Chương Trình 135

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy chương trình 135 đã có những đóng góp quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo tại Sơn La. Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả trong giai đoạn tiếp theo, cần có những giải pháp cụ thể nhằm khắc phục các hạn chế hiện tại. Việc tăng cường sự tham gia của cộng đồng và cải thiện quản lý nguồn lực là rất cần thiết.

5.1. Tăng Cường Sự Tham Gia Của Cộng Đồng

Cần khuyến khích người dân tham gia vào quá trình lập kế hoạch và thực hiện các hoạt động của chương trình. Sự tham gia này sẽ giúp đảm bảo rằng các hoạt động phù hợp với nhu cầu thực tế của cộng đồng.

5.2. Cải Thiện Quản Lý Nguồn Lực

Cần có các biện pháp cải thiện quản lý nguồn lực, đảm bảo sử dụng hiệu quả và tiết kiệm các nguồn vốn đầu tư. Việc này sẽ giúp nâng cao tính bền vững của chương trình trong tương lai.

27/06/2025
Luận văn thạc sĩ hiệu quả xóa đói giảm nghèo của chương trình 135 giai đoạn 2011 2015 ở tỉnh sơn la

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO VÀ CHƯƠNG TRÌNH 135 1. Những vấn đề chung về xóa đói giảm nghèo 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về nghèo đói Nghèo đói là một hiện tượng KT-XH phổ biến và là một phạm trù lịch sử tồn tại ở tất cả các quốc gia, không phân biệt thể chế chính trị xã hội, điều kiện kinh tế.

Điểm qua một số nguồn tài liệu mang tính phố biến hiện nay có thể cho ta một cái nhìn tổng quan về “Nghèo đói”: * Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban Kinh tế xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Thái Lan năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển KT-XH, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận”. Khái niệm nghèo đói này bao gồm 3 khía cạnh: - Nhu cầu cơ bản của con người bao gồm: ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại và giao tiếp xã hội; - Nghèo thay đổi theo thời gian: thước đo nghèo khổ sẽ thay đổi theo thời gian; khi kinh tế càng phát triển thì nhu cầu cơ bản của con người cũng sẽ thay đổi theo xu hướng ngày một cao hơn; - Nghèo thay đổi theo không gian: thông qua định nghĩa này cũng chỉ cho chúng ta thấy sẽ không có chuẩn nghèo chung cho tất cả các nước, vì nó phụ thuộc vào sự phát triển KT-XH và các yếu tố văn hóa của từng quốc gia, từng khu vực. Trên cơ sở đó, nghèo đói sẽ được chia ra bao gồm: nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối: + Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã 7 được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán của địa phương. + Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư sống dưới mức trung bình của cộng đồng.

* Theo VOER (Thư viện học liệu mở Việt Nam) thì hiện nay ở Việt Nam có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh khái niệm nghèo đói, song ý kiến chung nhất cho rằng: nghèo đói là 2 khái niệm riêng biệt, trong đó: 1/Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thỏa mãn một phần những nhu cầu tối thiếu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện; 2/Đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu và vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là các hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ 1 đến 3 tháng, thường vay mượn cộng đồng và thiếu khả năng chi trả. Giá trị đồ dùng trong nhà không đáng kể, nhà ở dột nát, con thất học, bình quân thu nhập dưới 13kg gạo/người/tháng[41]. Như vậy có thể thấy rằng, từ trước đến nay, đã có rất nhiều quan niệm về đói nghèo được đưa ra, và tùy theo cách tiếp cận khác nhau sẽ có những kiến giải khác nhau về nghèo đói, và theo thời gian, quan niệm về nghèo đói cũng càng được mở rộng và bao trùm hơn (cả về mặt lượng và chất) cùng với những tiến bộ xã hội "nhu cầu" của con người cũng ngày càng cao hơn.

Điều đó cho thấy, nghèo đói là một khái niệm tương đối và có tính biến đổi, tính biến đổi ở đây thể hiện ở trên cả phương diện không gian cũng như thời gian: ví dụ, chúng ta không thể sử dụng chỉ số xác định giới hạn nghèo đói của Mỹ để đánh giá mức độ đói nghèo của Việt Nam, hay của Hà Nội để đánh giá Sơn La; hoặc không thể áp dụng khái niệm nghèo đói giai đoạn trước để đánh giá cho giai đoạn sau. Hay nói cách khác, các chỉ số xác định giới hạn nghèo đói không phải là cứng nhắc, bất biến, mà nó luôn biến đổi và phụ thuộc rất nhiều yếu tố như: sự chênh lệch về phát triển giữa các dân tộc, các quốc gia, giữa các vùng miền, sự khác biệt về văn hóa, phong tục tập quán, thậm chí thể chế chính trị xã hội. Gần đây, Liên Hợp Quốc đã đưa ra một khái niệm có nội hàm phản ánh khá rõ tính đa chiều của đói nghèo: Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi 8 học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng.

Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh. Trên cơ sở đó, vấn đề nghèo đa chiều có thể đo bằng tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phi thu nhập. Sự thiếu hụt cơ hội đi kèm với tình trạng suy dinh dưỡng, thất học, bệnh tật, bất hạnh và tuyệt vọng là những nội dung được quan tâm trong khái niệm nghèo đa chiều. Thiếu đi sự tham gia và tiếng nói về kinh tế, xã hội hay chính trị sẽ đẩy các cá nhân đến tình trạng bị loại trừ, không được thụ hưởng những lợi ích phát triển KT-XH, do vậy họ bị tước đi các quyền con người cơ bản.

Có rất nhiều biểu hiện, khía cạnh, nguyên nhân của đói nghèo, với các mức độ khác nhau, tùy theo đối tượng và hoàn cảnh, bao gồm: nghèo về vật chất, do địa bàn cư trú của người nghèo, hạn chế về tổ chức và tiếp cận tổ chức, thiếu sự ảnh hưởng chính trị, thiếu thời gian, sức khỏe yếu, trình độ học vấn thấp, tình trạng không an toàn, địa bàn cư trú không thuận lợi, ít các mối quan hệ xã hội, vị trí thấp kém do bị quy kết hay do pháp luật, thiếu thông tin, và nghèo đói tính mùa vụ…[2, tr. Ở Việt Nam, theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, khái niệm nghèo đa chiều mới được triển khai và được áp dụng chính thức cho giai đoạn 2016 - 2020. Theo đó, ngoài các tiêu chí về thu nhập như trước đây, tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản cũng đã được áp dụng, bao gồm: 05 dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin); 10 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (tiếp cận các dịch vụ y tế, bảo hiểm y tế, trình độ giáo dục của người lớn, tình trạng đi học của trẻ em, chất lượng nhà ở, diện tích nhà ở bình quân đầu người, nguồn nước sinh hoạt, hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh, sử dụng dịch vụ viễn thông, tài sản phục vụ tiếp cận thông tin). Trong luận văn này, xuất phát từ địa bàn nghiên cứu trên cơ sở quan điểm XĐGN một cách bền vững, tác giả cho rằng, đói nghèo cần phải được xem xét trong một hệ thống tổng thể với cách tiếp cận đa chiều, trong đó phát triển hệ sinh thái chính sách cần được chú trọng.

Bởi như chúng ta đã biết, khác với các địa phương khác - nơi dân tộc Kinh (những người có trình độ phát triển cao hơn - đại diện cho phương thức sản xuất tiến bộ hơn) thường chiếm đa số trong cơ cấu dân số, Sơn La 9 với dân số hơn 1,17 triệu người (tính đến năm 2015), lại chủ yếu là các DTTS (đại diện cho trình độ phát triển thấp và không đồng đều) như: người Thái (chiếm 54%), người Tày, Nùng, Dao… trong khi người Kinh chỉ chiếm 16% dân số toàn tỉnh (xem Bảng 2. Cùng với đó, đặc điểm phân bố dân cư khá phức tạp, đồng bào ở đây thường tập trung chủ yếu ở các khu vực nông thôn, khu vực miền núi và vùng sâu vùng xa - là khu vực hết sức khó khăn và là trọng điểm của công tác XĐGN. Cùng với đó, ở những khu vực này hiện vẫn còn tồn tại nhiều hủ tục cổ hủ, lạc hậu cũng gây ra tình trạng bất bình đẳng về giới. Một vấn đề cần lưu ý nữa là ở Việt Nam, đói nghèo mang tính chất vùng miền khá rõ rệt, trong khi ở đồng bằng tỷ lệ đói nghèo thấp thì ở các vùng núi cao, vùng sâu vùng xa - nơi tập trung đông đồng DTTS, tỷ lệ đói nghèo thường rất cao.

Đây là những vùng có điều kiện sống khó khăn, địa lý cách biệt, khả năng tiếp cận với các điều kiện sản xuất, dịch vụ còn nhiều hạn chế, CSHT rất kém phát triển, điều kiện thiên nhiên rất khắc nghiệt và thiên tai xảy ra thường xuyên. Và Sơn La, với diện tích 14.174,44km2 (lớn thứ ba và chiếm 4,28% tổng diện tích cả nước và 37,88% diện tích vùng Tây Bắc) là tỉnh có diện tích đất tự nhiên lớn, trong đó chủ yếu là đồi núi cao, địa hình phức tạp - không thuận lợi cho hoạt động sản xuất và giao thương trao đổi sản phẩm với các khu vực khác, điều này giải thích vì sao Sơn La hiện nay vẫn là một trong những tỉnh nghèo nhất cả nước và là địa bàn trọng điểm của Chương trình 135. Xóa đói giảm nghèo Ngay từ khi giành được độc lập (năm 1945), Đảng và Nhà nước ta đã xem đói nghèo cũng là một thứ giặc nguy hiểm như giặc dốt và giặc ngoại xâm. Vì vậy, XĐGN là một trong những nhiệm vụ cấp bách và là quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta từ trước đến nay, thể hiện trên các phương diện sau: 1/Xóa đói giảm nghèo được coi là sự nghiệp của toàn dân, là một chính sách xã hội cơ bản, là hướng ưu tiên trong toàn bộ chính sách KT-XH; 2/Phát triển kinh tế đi đôi với thực hiện XĐGN bền vững, gắn XĐGN với các CTMTQG và an sinh xã hội.

Xác định rõ các vùng trọng điểm, các hoạt động ưu tiên để tập trung nguồn lực đầu tư có hiệu 10 quả; 3/Gắn XĐGN và giải quyết việc làm với thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Tạo cơ hội và điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản; Phát huy nội lực chủ yếu, đồng thời tăng cường sự hợp tác quốc tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Hiệu Quả Chương Trình 135 Trong Xóa Đói Giảm Nghèo Tại Sơn La (2011-2015)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về những thành tựu và thách thức của chương trình 135 trong việc cải thiện đời sống của người dân tại Sơn La trong giai đoạn 2011-2015. Tài liệu nêu bật các kết quả đạt được trong việc giảm nghèo, nâng cao thu nhập và cải thiện cơ sở hạ tầng, đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của chương trình. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách thức mà chương trình này đã góp phần vào sự phát triển bền vững của cộng đồng.

Để mở rộng kiến thức về các chương trình tương tự, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn đánh giá kết quả thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại xã Quỳnh Sơn, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011-2015, nơi cung cấp cái nhìn chi tiết về các chương trình phát triển nông thôn. Ngoài ra, tài liệu Vai trò của ngân hàng chính sách xã hội trong việc tạo vốn xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Nam Định sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của tài chính trong việc hỗ trợ các chương trình giảm nghèo. Cuối cùng, tài liệu Luận văn những giải pháp chủ yếu nhằm tăng trưởng kinh tế bền vững để xoá đói giảm nghèo ở vùng núi phía Bắc sẽ cung cấp thêm những giải pháp thiết thực cho việc phát triển kinh tế bền vững trong khu vực miền núi. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến xóa đói giảm nghèo và phát triển nông thôn.