CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thương mại 1. Khái quát về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa hay còn gọi thông dụng là doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu.
Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa Bảng 1.1: Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa Bảng tổng hợp xác định doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ ,vừa Quy mô Doanh nghiệp siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Tổng Tổng Tổng Tổng Tổng Tổng Số lao Số lao Số lao Lĩnh vực doanh nguồn doanh nguồn doanh nguồn động động động thu vốn thu vốn thu vốn Nông Không Không Không Không Không Không Không Không nghiệp, lâm Không quá quá 10 quá 3 quá 100 quá 20 quá 20 quá 200 quá 100 nghiệp , thủy quá 3 tỷ 200 người tỷ người tỷ tỷ tỷ tỷ sản người Không Công Không Không Không Không Không Không Không Không quá nghiệp, xây quá 10 quá 3 quá 100 quá 20 quá 20 quá 200 quá 100 quá 3 tỷ 200 dựng người tỷ người tỷ tỷ tỷ tỷ người Không Không Không Không Không Không Không Không Không Thương mại quá quá 10 quá 10 quá 3 quá 50 quá 100 quá 50 quá 300 quá 100 , dịch vụ 100 người tỷ tỷ người tỷ tỷ tỷ tỷ người (Điều 6, Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 của Chính phủ) 7 Mục đích của việc phân loại các DNNVV như vậy, vừa là để xây dựng các chủ trương, chính sách trợ giúp phát triển DNNVV; mặt khác để tăng cường quản lý của nhà nước về phát triển DNNVV ở nước ta. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa DNNVV có vốn đầu tư ban đầu ít, thu hồi vốn nhanh: Với qui mô sản xuất nhỏ nên nhu cầu vốn đầu tư thấp (dưới 10 tỷ đồng), chu kỳ sản xuất kinh doanh thường ngắn nên khả năng thu hồi vốn rất nhanh góp phần làm tăng tốc độ vòng quay của vốn, giảm các khoản chi phí vốn mang lại hiệu quả sử dụng vốn cho doanh nghiệp. DNNVV tồn tại ở hầu hết các lĩnh vực, các thành phần kinh tế: Nền kinh tế nước ta tồn tại và phát triển bao gồm nhiều thành phần với nhiều loại hình doanh nghiệp, từ các doanh nghiệp nhà nước, các công ty tư nhân tới các hợp tác xã. DNNVV được lực chọn các ngành nghề kinh doanh trong các lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp, công nghiệp, xây dựng.
phù hợp qui định của Nhà nước. Các doanh nghiệp nói chung và các DNNVV nói riêng được kinh doanh bình đẳng trước pháp luật trong các lĩnh vực của nền kinh tế trên mọi miền đất nước. DNNVV có tính linh hoạt và thích ứng cao: Trong cơ chế thị trường, để tồn tại và phát triển bền vững thì các doanh nghiệp phải nắm bắt kịp thời các nhu cầu của thị trường. Xuất phát từ đặc điểm có qui mô sản xuất nhỏ, vốn đầu tư ban đầu không lớn, cơ cấu tổ chức đơn giản, gọn nhẹ, doanh nghiệp dễ dàng điều chỉnh chuyển hướng sản xuất kinh doanh vào những ngành nghề khác khi cảm thấy lĩnh vực đó có lợi hơn.
Mặt khác, cơ cấu gọn nhẹ cũng giúp chủ doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc quản lý, giám sát, tiết kiệm chi phí quản lý, hạn chế sự sai lệch thông tin. Hơn nữa, các DNNVV không gặp nhiều khó khăn như doanh nghiệp lớn trong việc chuyển đổi địa điểm sản xuất kinh doanh. Bởi vì các DNNVV thường sử dụng chính những diện tích đất của mình để làm mặt bằng sản xuất. Ngoài ra, DNNVV có thể nắm bắt được cả những nhu cầu nhỏ lẻ mang tính khu vực và địa phương.
Điều này giúp cho DNNVV khai thác hết năng lực của mình, đạt tới hiệu quả kinh doanh cao nhất. 8 Năng lực tài chính thấp: Nhược điểm lớn nhất, dễ thấy nhất và đáng quan tâm nhất của các DNNVV đó là năng lực tài chính. Việc tiến hành việc sản xuất kinh doanh của DNNVV chủ yếu chỉ dựa vào nguồn vốn tự có của một hoặc một số cá nhân. Nguồn vốn này không đủ để doanh nghiệp có thể đổi mới dây chuyền công nghệ, tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm.
Mặt khác, việc tiếp cận nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng còn hạn chế. Nguyên nhân là do ngoài sự yếu kém về quản lý kinh tế thì tài sản thế chấp không đủ điều kiện, báo cáo tài chính, sổ sách kế toán của doanh nghiệp không rõ ràng, minh bạch. Năng lực quản lý, điều hành của chủ DNNVV thấp: Trình độ quản lý của chủ doanh nghiệp còn bộc lộ nhiều hạn chế. Chủ doanh nghiệp thành lập doanh nghiệp do có sẵn mối quan hệ với các kênh cung ứng với thị trường.
Nhiều chủ doanh nghiệp còn có thói quen điều hành quản trị theo kiểu gia đình. Việc tách bạch giữa các bộ phận trong doanh nghiệp chưa rõ ràng. Chủ doanh nghiệp chưa được đào tạo qua một khóa quản lý chính quy nào, thậm chí không qua đào tạo nên thiếu hiểu biết về pháp luật, kinh tế. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp còn hạn chế Do quy mô nhỏ, cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ thiết bị công nghệ yếu kém, lạc hậu nên chất lượng sản phẩm không cao, năng suất lao động thấp.
Thêm vào đó, trình độ tay nghề cũng như khả năng tiếp cận công nghệ mới của người lao động còn hạn chế. DNNVV ít có khả năng thu hút được những nhà quản lý và lao động có trình độ tay nghề cao do không có khả năng trả lương cao và những chính sách đãi ngộ hấp dẫn. Ngoài ra, việc tiếp cận thông tin của doanh nghiệp vẫn còn yếu kém và chưa kịp thời. Tất cả những điều này làm giảm tính cạnh tranh của DNNVV, tạo ra rào cản làm sản phẩm của doanh nghiệp khó tiếp cận với thị trường, đặc biệt là thị trường xuất khẩu.
Như vậy, việc nắm rõ những đặc điểm của DNNVV trong nền kinh tế thị trường sẽ giúp các định chế tài chính, ngân hàng khai thác được khoảng trống thị trường, từ đó có thể mở rộng thị trường, hoàn thiện cũng như phát triển sản phẩm, dịch vụ của mình. Khái quát về hoạt động cho vay DNNVV của ngân hàng thương mại 9 1. Khái niệm cho vay đối với DNNVV của ngân hàng thương mại “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định - thời hạn vay theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả nợ gốc và nợ lãi”, (Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12). Có hai nguyên tắc mà khách hàng luôn phải đảm bảo khi tiếp cận với nguồn vốn của ngân hàng, đó là: + Sử dụng vốn đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng cho vay.
+ Hoàn trả cả nợ gốc và lãi vốn theo đúng thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng cho vay. Cho vay là hoạt động quan trọng nhất của một NHTM, nó chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản của một ngân hàng, tạo ra thu nhập rất lớn từ lãi vay cũng là hoạt động mang lại nhiều rủi ro cho ngân hàng nhất. Như vậy, có thể rút ra khái niệm cho vay đối với doanh nghiệp của NHTM là:“Cho vay đối với DNNVV của NHTM là một hình thức cấp tín dụng, theo đó NHTM giao cho DNNVV một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và trong một thời hạn nhất định quy định trong hợp đồng cho vay. Doanh nghiệp phải đảm bảo hai nguyên tắc: sử dụng vốn vay đúng mục đích và hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn trong hợp đồng”.
Về phía ngân hàng, cho vay đối với các doanh nghiệp luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ tín dụng của mình. Vì vậy, các ngân hàng luôn cố gắng cung cấp đến doanh nghiệp những dịch vụ đa dạng nhất, tốt nhất, giữ được uy tín của mình và có sức cạnh tranh trên thị trường. Các hình thức cho vay đối với DNNVV của ngân hàng thương mại Có thể phân chia các hình thức cho vay đối với DNNVV thành 02 loại sau: Cho vay ngắn hạn Cho vay trung dài hạn * Cho vay ngắn hạn: Trong quá trình hoạt động doanh nghiệp cần đầu tư vốn vào tài sản lưu động, doanh nghiệp có thể sử dụng vốn ngắn hạn hoặc trung, dài hạn để tài trợ cho tài sản lưu động. Tuy nhiên, do nhu cầu vốn dài hạn để đầu tư vào tài 10 sản cố định rất lớn nên thông thường doanh nghiệp khó có thể sử dụng nguồn vốn dài hạn để đầu tư vào tài sản lưu động.
Nhu cầu tài trợ ngắn hạn của doanh nghiệp có thể chia thành: nhu cầu ngắn hạn thường xuyên và nhu cầu tài trợ ngắn hạn thời vụ. Nhu cầu tài trợ thường xuyên do đặc điểm luân chuyển vốn của doanh nghiệp quyết định trong trong khi nhu cầu tài trợ thời vụ do đặc điểm thời vụ của ngành sản xuất kinh doanh quyết định. Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp luôn có nhu cầu tài trợ ngắn hạn, thường xuyên hoặc thời vụ. Chính nhu cầu tài trợ này là cơ sở để ngân hàng thực hiện cấp tín dụng cho doanh nghiệp.
Có hai hình thức cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp hiện nay rất phổ biến là: cho vay theo món và cho vay theo hạn mức. - Cho vay theo món là khách hàng xin vay món nào thì phải làm hồ sơ xin vay món đó. Như vậy, nếu trong một quý khách hàng có bao nhiêu món vay thì phải làm bấy nhiêu hồ sơ xin vay và cũng bấy nhiêu lần bộ phận tín dụng phân tích và xem xét nhu cầu vay. Cho vay theo món giúp ngân hàng chủ động sử dụng vốn, thu lãi cao nhưng thủ tục lại phức tạp, tốn chi phí, thời gian, khách hàng không chủ động được nguồn vốn, hiệu quả sử dụng không cao.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng là loại cho vay chỉ cần một hồ sơ xin vay cho nhiều món vay. Cụ thể khách hàng nộp hồ sơ vay vốn một lần, thường là vào đầu năm dù trong năm khách hàng có nhiều món vay cũng chỉ làm một hồ sơ duy nhất. Ngân hàng tiến hành phân tích tín dụng và nếu đồng ý cho vay, hai bên tiến hành ký kết hợp đồng, trong hợp đồng sẽ có hạn mức cho vay đối với khách hàng.