Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. TỔNG QUAN VỀ CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP. Khái niệm: Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế kinh doanh tiền tệ vì mục đích sinh lời. Bằng các hoạt động: cho vay, nhận tiền gửi, cung cấp dịch vụ thanh toán, phát hành trái phiếu, bảo lãnh quốc tế… ngân hàng thương mại giúp các chủ thể trong nền kinh tế tận dụng tối đa nguồn lực tài chính sẵn có.
Qua đó, có thể hiểu, Ngân hàng thương mại là loại hình định chế tài chính trung gian hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Đây là loại định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường, góp phần tạo lập và cung ứng vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện và thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển. Tín dụng là thuật ngữ đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới, cụ thể là từ những năm đầu thế kỷ 15. Có rất nhiều cách định nghĩa thuật ngữ này, tuy nhiên, tín dụng được hiểu đơn giản nhất là tên gọi cho hoạt động cho vay và đi vay.
Ngoài ra, tín dụng đóng vai trò quan trọng trong quy trình tuần hoàn vốn, giúp giải quyết các hiện tượng thiếu hụt vốn hoặc dư thừa vốn của các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế. Như vậy, có thể hiểu rằng, Tín dụng là việc chuyển giao vốn dựa trên cơ sở tín nhiệm và theo nguyên tắc hoàn trả, theo đó, người cho vay chuyển giao quyền sử dụng một lượng tài sản cho người vay trong một thời hạn nhất định. 15 Trong nền kinh tế có rất nhiều loại tín dụng khác nhau như tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại, tín dụng cá nhân, tín dụng nhà nước,… căn cứ vào người cấp để có thể phân loại chính xác từng loại tín dụng. Theo đó, tín dụng ngân hàng là hoạt động chuyển giao vốn giữa ngân hàng và một chủ thể khác trong nền kinh tế như: doanh nghiệp, cá nhân,… Chủ thể ngân hàng trong mối quan hệ này vừa là chủ nợ (trong hoạt động cho vay), vừa là con nợ (trong hoạt động huy động vốn).
Có thể hiểu nôm na ngân hàng chính là chủ thể trung gian thực hiện các hoạt động tín dụng trong nền kinh tế. Qua đó, ta có khái niệm về tín dụng ngân hàng như sau: “Tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng chấp thuận để khách hàng sử dụng một lượng tài sản (bằng tiền, tài sản thực hay uy tín) trên cơ sở lòng tin khách hàng có khả năng hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn. Ngân hàng cấp tín dụng bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh và các nghiệp vụ khác.” Cho vay là một hoạt động trong tín dụng ngân hàng, trong đó ngân hàng có vai trò là bên cho vay. Cụ thể, ngân hàng sẽ cung cấp nguồn tài chính cho bên đi vay, và sẽ thu hồi cả gốc và lãi sau một khoảng thời gian nhất định căn cứ theo thoả thuận ban đầu.
Như vậy, sự ràng buộc giữa hai bên đi vay và cho vay là khoản vay, lãi suất vay, thời gian cho vay và quy chế cho vay bên phía ngân hàng. Căn cứ theo Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng nhà nước, hoạt động cho vay của ngân hàng được định nghĩa ngắn gọn như sau: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi’’. Đặc điểm của cho vay: Tương tự như đặc điểm tín dụng, hoạt động cho vay dựa trên tính tạm thời (cho vay có thời hạn), tính hoàn trả và tính tin tưởng. Cụ thể: 16 Hoạt động cho vay là sự chuyển nhượng nguồn vốn hoặc tài sản có thời hạn nhất định nhằm đảm bảo nguồn vốn huy động của ngân hàng không bị dư thừa hay thiếu hụt.
Bên đi vay bắt buộc phải thanh toán khoản vay đúng thời hạn đã thoả thuận ban đầu. Các khoản vay được thực hiện dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi vay. Lãi vay chính là giá trị thặng dư do ngân hàng tạo ra trong quá trình kinh doanh tiền tệ, như vậy, để ngân hàng hoạt động hiệu quả thì lãi vay phải luôn dương, tổng khoản vay hoàn trả (gồm gốc vay và lãi vay) phải luôn lớn hơn khoản chuyển nhượng ban đầu. Cho vay là hoạt động tiềm ẩn rất nhiều rủi ro cho ngân hàng, chính vì vậy, việc cho vay cũng phải dựa trên niềm tin giữa ngân hàng với bên đi vay.
Bằng nhiều biện pháp nghiệp vụ, quy trình đánh giá khách hàng, ngân hàng chỉ thực hiện khoản vay khi có niềm tin rằng khách hàng có khả năng hoàn trả khoản vay đúng kỳ hạn, khách hàng sử dụng khoản vay đúng mục đích và hiệu quả. Vai trò của cho vay khách hàng doanh nghiệp: Cho vay là hình thức phân bổ nguồn lực tài chính từ người dư cho người thiếu, chính vì vậy hoạt động cho vay có vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế. Đối với chủ thể kinh tế là các doanh nghiệp thì cho vay lại có vai trò to lớn trong việc phát triển và hoạt động sản xuất kinh doanh. Đối với ngân hàng: Đây là hoạt động kinh doanh chiếm tỷ trọng lớn của ngân hàng, tạo ra nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng.
Ngân hàng có thể điều tiết nguồn vốn một cách hợp lý, giảm thiểu các rủi ro về thanh khoản, rủi ro vốn, giúp nâng cao mối quan hệ giữa ngân hàng với khách hàng – nguồn khách hàng lớn cho các dịch vụ khác của ngân hàng ngoài 17 cho vay như: tiêu dùng cá nhân (nhân viên công ty), huy động vốn, phát hành trái phiếu, bảo lãnh,… Đối với doanh nghiệp: Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, các doanh nghiệp khó có thể đảm bảo nguồn vốn tự có của mình nên việc đi vay trở nên phổ biến và có nhiều lợi ích cho doanh nghiệp. Nhờ đi vay, doanh nghiệp có đủ nguồn vốn để hoạt động sản xuất kinh doanh và có vốn để mở rộng đầu tư, tăng lợi nhuận. Việc tận dụng tốt các khoản vốn từ đi vay giúp doanh nghiệp thu được nhiều lợi ích kinh tế hơn. Cụ thể, doanh nghiệp có thể sử dụng tiền đi vay để thực hiện các hoạt động đầu tư, kinh doanh sinh lời và phần chênh lệch giữa lãi thu được và lãi phải trả chính là lợi nhuận còn lại của doanh nghiệp.
Như vậy, chỉ cần quản trị tốt các nguồn vốn đi vay, doanh nghiệp có thể thu lại được rất nhiều lợi nhuận dù không tự có sẵn vốn. Đối với nền kinh tế: Việc ngân hàng cho khách hàng doanh nghiệp vay vốn giúp phân phối lại nguồn tiền tệ của nền kinh tế, giúp đáp ứng kịp thời và linh hoạt các nhu cầu về vốn. Từ đó giúp các doanh nghiệp có đủ tiềm lực để tham gia hoạt động kinh tế, góp phần phát triển kinh tế. Việc cho vay giúp nhà nước kiểm soát được lượng tiền có trong lưu thông, giúp chính phủ đưa ra các chính sách vĩ mô vi mô phù hợp với từng giai đoạn thị trường.
Các chính sách về lãi suất, cơ cấu vay theo ngành nghề khu vực giúp làm tăng sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp và động viên các doanh nghiệp tham gia phát triển ở các ngành nghề nhà nước khuyến khích, góp phần bình ổn 18 nền kinh tế. Đây cũng là một kênh quan trọng để chính phủ theo dõi và hoạch định. Phân loại hoạt động cho vay: Căn cứ theo các đặc điểm, có rất nhiều cách để phân loại hoạt động cho vay. Thời hạn cho vay: Việc căn cứ theo thời hạn cho vay sẽ quyết định kế hoạch kinh doanh vốn của ngân hàng.
Ngoài ra, thời gian vay sẽ quyết định tính an toàn của khoản vay và tính sinh lời của khoản vay. Ngân hàng có thể đánh giá khách hàng có khả năng hoàn trả trong khoảng thời gian phù hợp để đưa ra các khoản vay có khả năng sinh lời lớn và độ rủi ro thấp nhất có thể đạt được. Theo thời hạn cho vay, các khoản vay được phân loại như sau: Vay ngắn hạn: Khoản vay này thường là khoản vay giúp doanh nghiệp bổ sung vốn lưu động. Thời hạn vay thường dưới một năm.
Các hạn vay thường gặp là 4 tháng, 6 tháng. Vay trung hạn: Đây là khoản vay có thời hạn dài hơn, từ 1 năm đến 5 năm. Chủ yếu ngân hàng cho các doanh nghiệp vay trung hạn để bổ sung tài sản cố định hoặc nâng cấp nhà xưởng, dây chuyền sản xuất,… chủ yếu là các khoản mục có thể tạo ra lợi nhuận nhanh, khả năng thu hồi vốn sớm. Vay dài hạn: Đối với các khoản vay dài hạn, ngân hàng thường cho doanh nghiệp vay trên 5 năm.
Mục đích sử dụng vốn vay thường là vay đầu tư nhà xưởng mới, xây dựng cơ bản, đầu tư cơ sở hạ tầng lớn. Thông thường vay dài hạn sẽ phục vụ cho việc hình thành vốn cố định, cụ thể là các kế hoạch phát triển doanh nghiệp dài hạn. Mỗi khoản vay đều phục vụ cho các mục đích khác nhau, tuỳ theo nhu cầu vốn của doanh nghiệp, ngân hàng sẽ thực hiện các biện pháp đánh giá và đưa ra khoản vay, lãi suất và thời hạn vay phù hợp. 19 Phương thức cho vay: Đối với hoạt động cho vay doanh nghiệp, phương thức vay chủ yếu mà ngân hàng thương mại cung cấp là vay theo hạn mức, vay từng lần và cho vay hợp vốn.
Vay theo hạn mức: Theo đó, ngân hàng thương mại sẽ cấp cho doanh nghiệp một hạn mức tín dụng (mức dư nợ tối đa doanh nghiệp có thể giải ngân) trong một khoảng thời gian nhất định, thông thường là một năm (căn cứ theo hợp đồng tín dụng). Đối với cách thức vay vốn này, ngân hàng có thể yêu cầu khách thế chấp tài sản hoặc không tuỳ theo đánh giá của ngân hàng với tình hình hoạt động sản xuất của khách hàng. Đây là phương thức vay vốn đối với doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn thường xuyên. Vay từng lần: Theo đó, ngân hàng thương mại và doanh nghiệp sẽ ký hợp đồng tín dụng mỗi khi phát sinh nhu cầu vay vốn.
Thông thường, các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn không thường xuyên sẽ sử dụng hình thức vay từng lần để tối giản quy trình đánh giá, xét duyệt hạn mức của ngân hàng.