MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của dề tài Chăn nuôi lợn là một ngành có tầm quan trọng rất lớn trong đời sống xã hội nói chung và ngành chăn nuôi nói riêng ở Việt Nam. Đây là nguồn cung cấp một số lƣợng lớn thực phẩm với chất lƣợng tốt, đảm bảo cho nhu cầu và đời sống của con ngƣời. Để chăn nuôi có hiệu quả thì ngoài công tác giống, thức ăn chiếm vị trí rất quan trọng.
Tuy nhiên, do sự phát triển nhanh nên đã và đang có những dấu hiệu của sự phát triển thiếu bền vững, chi phí thức ăn cao, diễn biến bệnh dịch phức tạp, tăng ô nhiễm môi trƣờng, lạm dụng sử dụng hóa chất, kháng sinh trong chăn nuôi, đặc biệt có sử dụng các chất kích thích sinh trƣởng, tạo nạc… tạo ra sản phẩm thiếu an toàn, có tính cạnh tranh thấp gây lo ngại cho các nhà khoa học, nhà quản lý và ảnh hƣởng đến sức khỏe của ngƣời tiêu dùng. Thời gian trƣớc đây ngƣời ta sử dụng kháng sinh và hormone nhƣ là chất kích thích thích tăng trọng, giảm tiêu tốn thức ăn, tăng lợi nhuận. Sự tồn dƣ các chất này trong thịt và các sản phẩm từ thịt đã gây ra những hậu quả xấu cho con ngƣời. Do vậy, việc sử dụng các chế phẩm từ tự nhiên trong chăn nuôi nhằm nâng cao năng suất, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và giảm giá thành sản xuất trong chăn nuôi đang là hƣớng đi đƣợc ƣu tiên trong chăn nuôi hiện nay.
Xuất phát từ yêu cầu trên và với mục đích đánh giá hiệu quả của sản phẩm Mfeed+ đến sự tăng trƣởng của lợn thịt, qua đó có những khuyến cáo thích hợp nhất cho ngƣời chăn nuôi lợn, em thực hiện đề tài “Hiệu quả việc bổ sung Mfeed+ tới khả năng sản xuất lợn thịt nuôi tại trại Bắc Giang của công ty Dabaco”. Mục tiêu của đề tài - Đánh giá đƣợc hiệu quả của việc bổ sung chế phẩm Mfeed+ trong chăn nuôi lợn thịt. - Hoàn thiện quy trình nuôi dƣỡng và chăm sóc lợn thịt. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài - Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài đóng góp thêm những tƣ liệu khoa học về vai trò của chế phẩm trong chăn nuôi nói chung, chăn nuôi lợn nói riêng.
Đặc biệt là vai trò của nó trong việc tăng năng suất vật nuôi và cải thiện môi trƣờng. - Ý nghĩa thực tiễn + Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần đƣa ra những khuyến cáo trong việc sử dụng các chế phẩm trong chăn nuôi lợn thịt. Đánh giá đƣợc hiệu quả sử dụng của chế phẩm Mfeed+ ở mức bổ sung 0,1% và 0,05%, từ đó có hƣớng sử dụng thích hợp. + Từ kết quả nghiên cứu trên có thể áp dụng vào thực tiễn sản xuất sử dụng Mfeed+ để tăng cƣờng hiệu quả sử dụng thức ăn trong chăn nuôi.
c 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Sinh lý tiêu hóa của lợn và hệ vi sinh vật đường ruột của lợn. Sinh lý tiêu hóa của lợn Dạ dày lợn là loại dạ dày trung gian giữa dạ dày đơn và dạ dày kép.
Đặc điểm về phía trái của thƣợng vị có phần manh nang lồi ra. Nhƣ vậy dạ dày lợn gồm năm vùng: vùng thực quản, vùng manh nang, vùng thƣợng vị, vùng thân vị, vùng hạ vị. Vùng thực quản không có tuyến, vùng manh nang và thƣợng vị có tuyến tiết ra dịch nhầy, không có pepsin và HCl. Vùng thân vị và hạ vị giống nhƣ dạ dày đơn.
Ở miệng, nƣớc bọt tiết ra men amylaza để tiêu hóa tinh bột, vì lợn ăn nhanh nuốt liên tục nên tiêu hóa ở miệng là rất ít mà chủ yếu là tẩm ƣớt thức ăn đẩy xuống dạ dày, ruột để tiêu hóa. Dạ dày tiết ra dịch vị, các men tiêu hóa, thức ăn xuống dạ dày sẽ đƣợc cơ trơn nhào trộn, cùng với đó là các men tiêu hóa ngấm vào thức ăn. Men trypsinogen nhờ tác dụng của HCl trở thành trypsin hoạt động, men này thủy phân protid thành axit amin và peptid để dạ dày và ruột non hấp thu. Ở dạ dày lợn nhu động yếu nên thức ăn có hiện tƣợng xếp lớp do vậy những thức ăn bên ngoài đƣợc tiêu hóa trƣớc.
Hàm lƣợng HCl trong dịch vị tăng dần lên để dần đạt tới sự ổn định gắn liền với sự hoàn chỉnh về cấu tạo và chức năng của dạ dày lợn. Ở lợn 90 ngày tuổi hàm lƣợng HCl là 0,2 - 0,25% còn ở lợn trƣởng thành hàm lƣợng HCl là 0,35 - 0,4% (Nguyễn Thiện và cs (1998) [19]). c 4 Ruột non của lợn dài 14 - 18 m, tiêu hóa ở ruột non chủ yếu do tác dụng của dịch tiêu hóa nhƣ: dịch tụy, dịch ruột, dịch mật và các dịch tiết ra từ cơ quan tiêu hóa đƣa xuống. Lợn có khối lƣợng 100 kg tiết 8 lít dịch tụy trong một ngày đêm và sự phân tiết này phụ thuộc vào loại thức ăn, cách chế biến và cách cho ăn… Các nghiên cứu kỹ lƣỡng về đặc điểm phân tiết các loại dịch tiêu hóa, các nhân tố ảnh hƣởng… đã đƣợc tiến hành bởi nhiều tác giả: Trần Cừ và Cù Xuân Dần (1975) [4] có nhận xét có tính ứng dụng đó là: số lƣợng và chất lƣợng dịch tiêu hóa của lợn thay đổi phụ thuộc vào loại thức ăn, phƣơng pháp cho ăn và nhất là cách chế biến thức ăn.
Nếu thức ăn đƣợc chế biến tốt sẽ nâng cao đƣợc hiệu suất tiêu hóa. Phần cuối cùng của bộ máy tiêu hóa là ruột già, ruột già dài khoảng 4 – 5 m bao gồm manh tràng, kết tràng và trực tràng. Ở ruột già chủ yếu xảy ra quá trình tiêu hóa chất xơ do vi sinh vật ở manh tràng phân giải tạo ra các sản phẩm chính là axit lactic, axit này có tác dụng ức chế vi khuẩn gây thối và các vi sinh vật có hại khác. Ruột già hấp thu chủ yếu là khoáng và nƣớc.
Với protein còn lại trong thức ăn chƣa đƣợc tiêu hóa hết, đến ruột già sẽ bị vi khuẩn ở ruột già phân giải thành các chất crerol, indol có tính độc, chúng hấp thu vào máu và đƣợc giải độc ở gan. Phần cặn bã đi vào kết tràng, trực tràng và tạo thành phân ra ngoài. Hệ vi sinh vật đường ruột ở lợn Hệ vi sinh vật trong đƣờng tiêu hóa ở lợn đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn đồng thời nâng cao sức đề kháng cho cơ thể lợn. Sự phát triển của các vi khuẩn sinh axit và vi khuẩn tổng hợp các chất có hoạt tính sinh học, đồng thời ức chế vi khuẩn gây thối là một quá trình có lợi cho cơ thể (Đào Trọng Đạt và Phan Thanh Phƣợng, (1995) [6]).
c 5 Hàng ngày, một số loại vi khuẩn khác theo thức ăn vào ruột, sống và sinh sôi nảy nở ở đó, chúng có thể biến đổi nhƣng cơ bản chúng sống ở đó cho đến khi con vật chết. Thành phần và số lƣợng vi sinh vật phụ thuộc vào loại thức ăn. Môi trƣờng đƣờng ruột và dạ dày có độ ẩm và dinh dƣỡng thuận lợi cho vi sinh vật phát triển, tuy nhiên sự phát triển của chúng có giới hạn vì trong dạ dày và ruột có chất kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn đƣờng ruột và vi khuẩn gây thối nhƣ dịch mật, dịch vị và các tác động đối kháng của các vi khuẩn khác. Theo Đào Trọng Đạt và Phan Thanh Phƣợng (1995) [6], trong hệ tiêu hóa của động vật, hệ vi sinh vật luôn luôn ổn định, đảm bảo cân bằng cho hệ tiêu hóa.
Khi sự cân bằng này bị phá vỡ thì những vi khuẩn có hại cạnh tranh phát triển gây rối loạn tiêu hóa và gây tiêu chảy. Một số yếu tố ảnh hưởng đến tiêu hóa của lợn Có nhiều yếu tố ảnh hƣởng đến tỷ lệ tiêu hoá của lợn con, trong đó có các yếu tố nhƣ thức ăn, kỹ thuật chế biến thức ăn, kỹ thuật cho ăn, yếu tố thời tiết, khí hậu… Các loại thức ăn khác nhau ảnh hƣởng không giống nhau đến tiêu hóa của lợn. Thức ăn nhiều nƣớc giảm tiết nƣớc bọt và dịch vị. Tỷ lệ thức ăn và nƣớc là 1/3 thì lợn không tiết nƣớc bọt (Trần Cừ và Nguyễn Khắc Khôi, 1985) [5].
Thức ăn dạng bột nghiền kích cỡ khác nhau thì tỷ lệ tiêu hoá khác nhau. Phƣơng pháp nghiền nhỏ thƣờng áp dụng đối với các loại thức ăn hạt. Khi nghiền nhỏ phần vỏ cứng nhiều xơ bị phá vỡ, thức ăn đƣợc nghiền nhỏ ra, tỷ lệ tiêu hoá nhờ đó tăng lên. Do đó thức ăn đƣợc nghiền nhỏ có lợi cho vật nuôi.
Khi nghiền nhỏ các loại hạt thì tỷ lệ tiêu hoá vật chất khô (VCK) tăng 3%, protein thô (CP) tăng 4%, lipit thô tăng 15%, xơ thô (CF) tăng 2,2% và bột đƣờng tăng 1,5% so với nghiền ở mức độ to (Từ Quang Hiển và cs, 2001) [8]. c 6 Kỹ thuật chế biến thức ăn khác nhau (nhƣ lên men, ủ chua, rang chín) cũng ảnh hƣởng đến khả năng tiết dịch tiêu hoá. Thức ăn rang chín, dịch vị tiết nhiều hơn thức ăn ngâm nƣớc. Thức ăn bột ngũ cốc, cám thì tiết dịch vị nhiều hơn thức ăn củ, quả, rau tƣơi, thức ăn sống, ủ men thì dịch vị và dịch ruột cũng nhƣ hoạt lực của các enzyme cao hơn thức ăn chín không ủ men.
Khi khẩu phần không cân bằng các chất dinh dƣỡng sẽ làm giảm tỷ lệ tiêu hoá và hấp thu các chất dinh dƣỡng. Nếu khẩu phần có lƣợng protein thấp, sẽ làm tăng hoạt động của cơ quan tiêu hoá, làm thải nhiều nitơ theo dịch tiêu hoá để tạo nên nhũ chấp có tỷ lệ thành phần các chất nhất định, dẫn đến làm tăng cao tƣơng đối lƣợng nƣớc trao đổi theo phân và làm cho lợn bị thiếu protein (Trần Văn Phùng, 2004) [16]. Đồng thời khi lƣợng protein trong khẩu phần thấp sẽ dẫn đến sự giảm tiết dịch tụy và dịch dạ dày rõ rệt. Nếu khẩu phần có mức protein trung bình thì lƣợng dịch tụy tiết ra là 4400 ml, nhƣng khẩu phần có mức protein thấp lƣợng dịch tuỵ tiết ra là 3225 ml, còn khi mức protein cao thì lƣợng dịch tụy đạt tới 5280 ml.
Nhƣ vậy, khẩu phần có hàm lƣợng protein cao thì lƣợng dịch tuỵ tiết ra càng nhiều để tăng cƣờng tiêu hoá protein. Cách cho lợn ăn cũng làm ảnh hƣởng đến sự tiêu hoá thông qua lƣợng dịch tiêu hoá tiết ra bị thay đổi. Nếu cho lợn ăn nhiều bữa và cho ăn thức ăn khô sẽ làm tăng tiết dịch tiêu hoá. Số lƣợng thức ăn một bữa cũng có tác dụng làm hƣng phấn hoạt động tiêu hoá, làm tăng tiết dịch tiêu hoá và kết quả là làm tăng tỷ lệ tiêu hoá thức ăn.