Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HIỆU LỰC CỦA THỎA ƢỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ 1. KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT, VAI TRÒ VÀ Ý NGHĨA CỦA THỎA ƢỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ 1. Khái niệm, vai trò và ý nghĩa của Thỏa ƣớc lao động tập thể - Khái niệm thỏa ước lao động tập thể Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ do Hoàng Phê chủ biên, Nhà xuất bản Đà Nẵng và Trung tâm từ điển học xuất bản năm 2005, Thỏa ước lao động tập thể được hiểu là "văn bản thỏa thuận giữa các bên, ghi rõ trách nhiệm và quyền lợi của từng bên" [22, tr. Theo Từ điển mã nguồn mở (Wikipedia), thì thỏa ước lao động tập thể được hiểu là: Một thỏa ước tập thể là một hợp đồng lao động giữa người sử dụng lao động và một hoặc nhiều tổ chức công đoàn/ tổ chức lao động Thỏa ước lao động tập thể bao gồm một quá trình bao gồm một quá trình thảo thuận giữa các đại diện của một tổ chức công đoàn và những người sử dụng lao động (được đại diện bởi quan quản lý, ở một số nước bởi tổ chức của những người sử dụng lao động) về các điều khoản và các điều kiện làm việc của người lao động như tiền lương, giờ làm việc, các điều kiện làm việc và các thủ tục giải quyết tranh chấp, và về các quyền và trách nhiệm của các tổ chức công đoàn.
Các bên thường coi kết quả của cuộc thương lượng là thỏa ước lao động tập thể là thảo ước việc làm tập thể [30]. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Từ điển pháp luật Anh - Việt, quan niệm thỏa ước tập thể được hiểu là: "Một thỏa thuận đạt được giữa người sử dụng lao động và công đoàn sau khi thương lượng không ràng buộc về mặt pháp lý trừ khi thỏa thuận này được viết ra và phải nêu cụ thể ý định của các bên liên quan" [15, tr. Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp thì Thỏa ước lao động tập thể được hiểu là: "Thỏa thuận bằng văn bản giữa đại diện tập thể lao động (hoặc đại diện giới lao động) và người sử dụng lao động (hoặc đại diện giới sử dụng lao động) về các điều kiện lao động và sử dụng lao động, quyền và nghĩa vụ các bên trong quan hệ lao động" [21, tr. Chúng ta đã biết, thuật ngữ thỏa ước lao động tập thể không phải thuật ngữ mới mẻ và cũng không phải là sản phẩm của xã hiện đại ngày nay.
Vào những năm cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, trên thế giới diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt giữa giới lao động và người sử dụng lao động (giới tư bản) diễn ra hầu hết các nước tư bản chủ nghĩa. Nước Anh là một điển hình cho những cuộc đấu tranh này, bởi lúc đo nước Anh được coi là cái nôi của nền công nghiệp thế giới. Sự xung đột cũng như đấu tranh về quyền lợi đã diễn ra ở nơi đây quyết liệt giữa công nhân với giới chủ. Điều đó khiến cho giới công nhân liên kết với nhau để chống lại giới chủ.
Tổ chức công đoàn (đại diện tập thể người lao động hình thành nên từ đây). Trước những phản kháng quyết liệt từ người lao động và tổ chức công đoàn lúc bấy giờ, thì tư bản Anh đã từng bước nhượng bộ và tiến hành ký kết các thỏa thuận đối với các đại diện tập thể người lao động để giữ bình ổn mối quan hệ lao động trong các xí nghiệp. Những cuộc thương lượng đầu tiên ra đời và tiến hành ký kết các nhượng bộ với đại diện người lao động. "Đây là những bước đi ban đầu, thúc đẩy yêu cầu ký kết thỏa ước lao động ngày càng mạnh mẽ không chỉ ở nước Anh mà còn lan rộng ra cả châu Âu trong thế kỷ XIX và đến đầu thế kỷ XX thì nhiều nước tư sản đã chính thức luật pháp hóa vấn đề thỏa ước lao động tập thể" [10, tr.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, ở bất cứ phương diện và khía cạnh nào được thể hiện trong định nghĩa khoa học pháp lý hay không phải trong khoa học pháp lý thì thỏa ước luôn được hiểu là sự thỏa thuận, cam kết về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia vào quan hệ lao động. Nó luôn được hiểu là sự thương lượng giữa người sử dụng lao động và người lao động về một vấn đề cụ thể. Ở đó mỗi bên tham gia quan hệ lao động đều xác định rõ quyền lợi và nghĩa vụ cũng như trách nhiệm cần phải thực hiện của mỗi bên. Trong đời sống, không thể phủ nhận vai trò của việc thỏa thuận, thương lượng để tránh việc phát sinh mâu thuẫn, xung đột.
Vì vậy, đây là biện pháp tối ưu cần thiết trong đời sống xã hội, cũng như trong đời sống mỗi con người. Đối với lĩnh vực lao động thì chúng ta thấy rõ, những cam kết và thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và tập thể người lao động về quyền và nghĩa vụ trong quan hệ lao động thì được gọi là thỏa ước lao động tập thể, còn những thỏa thuận và cam kết giữa người sử dụng lao động và cá nhân người lao động sẽ được xác định bằng hợp động lao động tập thể có xác định thời hạn hoặc không xác định thời hạn. Vì vậy, tùy vào hình thức cam két thảo thuận trên mà xác định mối quan hệ hợp đồng lao động cá nhân hay là thảo ước lao động tập thể. Đối với lĩnh vực kinh tế, thỏa ước lao động tập thể cho ta thấy sự thương lượng, thỏa thuận về quyền lợi và trách nhiệm cũng nghĩa vụ của bên.
Họ phải đạt đến một sự thống nhất, nhất trí về từng vấn đề trong thỏa thuận. Ở một góc độ nào đó, thì đây được coi là sự nhượng bộ, từng bước các bên nhượng bộ nhau về quyền lợi. Tuy nhiên, sự nhượng bộ này có sự đồng nhất của các bên. Có nghĩa, chúng nằm trong giới hạn cho phép nhất định của các bên, đều mang lại lợi ích cho hai bên.
Sự thống nhất trong việc thương lượng này để tránh cho mỗi bên lấn át quyền lợi của nhau. Đồng thời, chúng góp phần làm bình ổn mối quan hệ lao động trong doanh nghiệp và mỗi bên đều hưởng những điều kiện tốt cho mình. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chúng ta thấy việc thương lượng chỉ diễn ra khi các bên có xung đột về lợi ích trong một vấn đề nhất định. Các cuộc thương lượng hầu hết diễn ra trong tinh thần tự nguyện, đưa ra các quan điểm đánh giá của mỗi bên để có thể đạt phân chia quyền lợi một cách thỏa đáng.
Các bên cùng thảo luận để đưa ra phương hướng giải quyết mà ở đó quyền lợi mỗi bên đều được cùng nhau công nhận và hạn chế mâu thuẫn xảy ra. Điều này, đã phần nào đáp ứng nguyện vọng của người lao động trong quan hệ lao động đối với doanh nghiệp. Thỏa ước lao động tập thể được xem xét dưới góc độ pháp lý, trong các công ước quốc tế và các khuyến nghị của tổ chức lao động quốc tế về các vấn đề như việc làm, phát triển nguồn nhân lực, tiền lương, an toàn vệ sinh lao động v. Đặc biệt Tổ chức Lao động Quốc tế luôn quan tâm đến vấn đề thỏa ước lao động tập thể, vì đó là điều thể hiện sự phát triển về quan hệ lao động của doanh nghiệp của mỗi quốc gia.
Trong nhiều năm qua, tổ chức lao động quốc tế thúc đẩy nhiều quốc gia tham gia vào việc ký kết thỏa ước lao động tập thể để giữ gìn bình ổn mối quan hệ lao động. Nhiệm vụ này được thể hiện trong tuyên bố Philadenphia năm 1944: "Nghĩa vụ chính thức của ILO là thúc đẩy các nước trên thế giới thực hiện các chương trình nhằm đạt được… Thừa nhận thực sự quyền được thương lượng tập thể" (phần III, điểm e) [26, tr. Đúng vậy, việc thỏa thuận và thương lượng trong thỏa ước lao động tập thể trong quan hệ lao động - mang tính chất toàn cầu và việc áp dụng thỏa ước lao động tập thể được phổ biến rộng rãi trên phạm vi toàn thế giới. Bên cạnh đó, Công ước số 98 về Quyền tổ chức và thương lượng tập thể được phê duyệt 5 năm sau, vào năm 1994 và được áp dụng rộng rãi trên nhiều nước.
Trong đó phải kể đến những công ước quan trọng sau: Công ước số 98 năm 1949, Công ước số 151 năm 1978, Công ước 154 năm 1981 và các khuyến nghị số 91 năm 1951, khuyến nghị số 163 năm 1981. Khuyến nghị số 91, tổ chức lao động quốc tế đã đưa ra định nghĩa về thỏa ước lao động tập thể như sau: 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mọi thỏa thuận viết có liên quan đến các điều kiện lao động và sử dụng lao động được ký kết giữa một bên là người sử dụng lao động, một nhóm người sử dụng lao động hoặc một hay nhiều của tổ chức của người sử dụng lao động với một bên là một hay nhiều tổ chức đại diện của người lao động hoặc nếu không có tổ chức đó thì các đại diện của những người lao động đó bầu ra và được ủy quyền một cách đúng mức theo quy định của pháp luật quốc gia [17, tr. Tại Điều 2 của Công ước số 54, khái niệm thỏa ước lao động tập thể được Tổ chức Lao động Quốc tế giải thích rõ hơn về vấn đề thương lượng tập thể. Vì vậy, Thỏa ước lao động tập thể là mục đích mong đạt đến của các bên trong quan hệ lao động: i) Quy định những điều kiện lao động và điều kiện sử dụng lao động; ii)Điều chỉnh mối quan hệ giữa những người sử dụng lao động và những người lao động; iii)Điều chỉnh mối quan hệ giữa những người sử dụng lao động hoặc các tổ chức của người sử dụng lao động với một hay nhiều tổ chức người lao động [17, tr.
Qua những điều trên, thì quan điểm về thỏa ước lao động tập thể của các nước có phần lớn giống như quan điểm của tổ chức lao động quốc tế. Chúng ta tìm hiểu thêm một số khái niệm vê thỏa ước lao động tập thể theo pháp luật của một số nước trên thế giới.