phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Khái quát chung về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và vấn đề hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Chƣơng 2: Các quy định của pháp luật Việt Nam về hiệu lực của Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trong tương quan so sánh với pháp luật nước ngoài và pháp luật quốc tế Chƣơng 3: Thực trạng thực thi và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hiệu lực hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trong điều kiện hội nhập quốc tế. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ VÀ VẤN ĐỀ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 1. Khái quát chung về hợp đồng mua bán hàng hóa 1.1 Định nghĩa Trong quá trình lao động của lịch sử xã hội loài người, con người sáng tạo ra của cải vật chất, các sản phẩm này được tạo ra ngày càng đa dạng và phong phú, không chỉ phục vụ cho nhu cầu của bản thân mà còn dư thừa cung cấp cho xã hội thông qua sự trao đổi hàng hóa. Nhu cầu trao đổi hàng hóa ấy cũng dần trở thành xu hướng khách quan, tạo ra mối quan hệ trao đổi, mua bán giữa con người với con người trên cơ sở ý chí tự nguyện, mong muốn của các bên đạt được lợi ích của mình.
Mối quan hệ đó trở thành những bản giao kèo. Khi pháp luật hình thành thì mối quan hệ đó gọi là hợp đồng hoặc khế ước (theo thuật ngữ luật nước Phương Tây) và được pháp luật bảo vệ. Như vậy có thể nói hợp đồng mua bán được thiết lập để mang lại lợi ích hợp pháp mong đợi cho các bên. Hầu hết các hệ thống pháp luật Phương tây định nghĩa chung về hợp đồng là “một lời hứa được luật pháp đảm bảo bằng các hình phạt”.
Tuy nhiên luật pháp của các nước khác nhau lại có quy định khác nhau về bản chất của lời hứa này. Các nước theo hệ thống luật lục địa thì quan điểm “ưng thuận” (consensuel) nổi trội hơn cả: ý định giao kết hợp đồng của các bên là điều kiện cần và đủ để chứng minh có tồn tại một nghĩa vụ hợp đồng. Các hệ thống luật khác lại đòi hỏi rằng lời hứa phải được hoàn chỉnh bởi một thủ tục sau đó, có thể là ký một văn bản chính thức, hoặc trao lại một cái gì đó. Một số hệ thống luật khác lại yêu cầu phải có sự trao đổi về kinh tế để làm rõ và củng cố lời hứa (trong luật của Anh gọi là “consideration”).
Ở các nước theo truyền thống thông luật (common law) [13] như Anh, Mỹ, Ốtxtrâlia và một số nước chịu ảnh hưởng của truyền thống pháp luật này không phân biệt về mục đích và nội dung của Hợp đồng. Ở Anh có Luật về bán hàng (Sale of Good Act) 1893 và được sửa đổi bổ sung 1980; Bộ luật dân sự của Thụy Sỹ cũng có quy định về hợp đồng mua bán thương mại. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Điều 1101 của Bộ luật dân sự Pháp [2, tr. 667] định nghĩa: “ Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác về việc chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một việc gì đó.” Điều 453 của Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan [3, tr.123] quy định: “Mua bán là một hợp đồng mà một người gọi là người bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho một người khác gọi là bên mua, và người mua đồng ý trả cho người bán giá trị của nó.” Điều 428 của BLDS 2005 [1, tr.
95] có định nghĩa về hợp đồng mua bán tài sản như sau: "Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán”. Điều 3 Luật Thương mại 2005 [4, tr.3] của Việt Nam (LTM 2005) đã định nghĩa “hoạt động mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyên sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận”. Như vậy, pháp luật Việt Nam không có định nghĩa chính xác thế nào là Hợp đồng mua bán hàng hóa (HĐMBHH). Tuy nhiên trên cơ sở các định nghĩa chung về hợp đồng, hợp đồng dân sự, hợp đồng mua bán tài sản, có thể định nghĩa HĐMBHH như sau: “HĐMBHH là sự thỏa thuận của các bên về việc chuyển quyền sở hữu hàng hóa trong đó bên bán có nghĩa vụ chuyển giao hàng hóa và quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền cho bên bán, quyền được nhận hàng hóa và quyền sở hữu hàng hóa”.
Bằng sự thỏa thuận giữa các bên, HĐMBHH được lập ra trở thành một công cụ pháp lý quan trọng làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.2 Đặc điểm của Hợp đồng mua bán hàng hóa 1.1 Hợp đồng mua bán hàng hóa là một hành vi pháp lý được hình thành do sự thỏa thuận thống nhất ý chí giữa hai hoặc nhiều người Tự do ý chí là một đặc điểm quan trọng của HĐMBHH. Nguyên tắc này xuất hiện từ thế kỷ XVIII và nằm trong hệ thống các quan điểm của nền triết học ánh 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sáng khi cho rằng ý chí của con người là tối thượng và tự chủ. Chỉ các hành vi xuất phát từ ý chí của một người mới có hiệu lực ràng buộc đối với người đó. Một người chỉ bị ràng buộc khi người đó muốn như vậy và ràng buộc theo cách mà người đó muốn.
Vì vậy ý chí tự nguyện tự do giao kết hợp đồng của mỗi bên sẽ quyết định việc hình thành một thỏa thuận thống nhất. Khi giao kết hợp đồng, mỗi bên đều mong muốn đạt được những lợi ích riêng của mình trong phạm vi pháp luật thừa nhận và việc giao kết đó có thể được thiết lập theo cách thức mà hai bên thỏa thuận về mua bán hàng hóa như: bằng lời nói, văn bản, hoặc hành vi của các bên giao kết. Hành vi pháp lý nói trên (hay nói cách khác là các hợp đồng nói trên) trở thành nguồn chủ yếu làm phát sinh quyền và nghĩa vụ mà các bên đã cam kết phải thực hiện và là một trong các đặc điểm quan trọng của HĐMBHH.2 Chủ thể của hợp đồng mua bán là các bên tham gia giao kết và thực hiện hợp đồng. Để có đủ ý chí để giao kết hợp đồng và năng lực để thực hiện những giao kết của mình với bên kia của hợp đồng nhằm đạt được lợi ích mong muốn, chủ thể hợp đồng phải là thực thể có đủ điều kiện về năng lực hành vi để giao kết hợp đồng.
Thực thể đó là cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình….3 Đối tượng của hợp đồng là hàng hóa Có thể nói hàng hóa là vật có thực được các bên đưa ra trong hợp đồng bán hàng tại thời điểm xác định và có thể đem ra để trao đổi, chuyển nhượng và không bị pháp luật ngăn cấm.4 Nội dung của hợp đồng là các điều khoản hợp pháp do các bên thỏa thuận, thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng Nội dung HĐMBHH là bất kỳ sự thỏa thuận hợp pháp nào của các bên trong hợp đồng. Nội dung chủ yếu của hợp đồng chính là quyền và nghĩa vụ của các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận tiền; còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng hóa và trả tiền cho bên bán. Ngoài những quyền và nghĩa vụ của các bên, các điều khoản thỏa thuận chủ yếu của Hợp đồng chính là đối tượng hàng hóa và giá cả. Pháp luật của hầu hết các nước 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đều không quy định bắt buộc các điều khoản chủ yếu của Hợp đồng.
Vì vậy bên cạnh 03 điều khoản nói trên, một số điều khoản khác cũng được các bên thỏa thuận trong hợp đồng như: điều khoản về phương thức thanh toán, thời hạn thanh toán, địa điểm giao nhận hàng hóa…. Hình thức của Hợp đồng mua bán hàng hóa Tùy theo từng mối hệ giữa các bên tham gia giao kết hợp đồng, tùy theo từng tính chất quan trọng /giá trị của từng đối tượng hợp đồng mà các bên lựa chọn hình thức hợp đồng khác nhau. Thông qua cách thức biểu hiện này, người ta có thể biết được nội dung của hợp đồng đã xác lập. Hình thức của hợp đồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tố tụng, bởi đó là chứng cứ xác nhận các quan hệ kinh doanh đã và đang tồn tại giữa các bên, từ đó xác định trách nhiệm khi có vi phạm xảy ra.
Hình thức của hợp đồng có thể là lời nói, văn bản hoặc các hành vi cụ thể. Theo đó, hợp đồng có thể được giao kết dưới hình thức một lời thỏa thuận bằng miệng hoặc thông qua các phương tiện liên lạc trực tiếp về sự mua bán, có khi sự thỏa thuận dưới hình thức gián tiếp bởi một văn bản như thư chào hàng và chấp nhận chào hàng, văn bản Fax, Thư điện tử,…. Tuy nhiên dưới bất kỳ hình thức nào thì hình thức của hợp đồng cũng không được trái với quy định của pháp luật về hình thức của hợp đồng. Trong trường hợp pháp luật có quy định giao dịch kinh doanh phải được thể hiện bằng hình thức văn bản hoặc phải được công chứng, chứng thực, đăng ký hay xin phép thì các bên phải tuân thủ các quy định này.
Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 1.1 Định nghĩa Ngay khi giao lưu buôn bán phát triển, hoạt động trao đổi, buôn bán hàng hóa không chỉ diễn ra trong phạm vi một nước mà còn lan rộng ra phạm vi khu vực và thế giới nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của con người. Để giao kết được HĐMBHH với nước ngoài, thương nhân đóng trụ sở thương mại ở nước này ký kết hợp đồng mua hoặc bán hàng hóa với thương nhân đóng trụ sở thương mại tại nước khác. Chẳng hạn Công ty may 10 có trụ sở tại Việt Nam ký hợp đồng xuất khẩu hàng may mặc cho các công ty của Mỹ có trụ sở tại Mỹ hoặc thậm chí có trụ sở tại Nhật.