Chương 1 về mớ đầu và Chương 6 vê kết luận, bài nghiên cứu về đề tài “mua lại sát thú" còn có 4 chương nội dung chính như sau: Chương 2: Cơ sở lý luận của vấn đề mua lại sát thủ Chương này sẽ nói chủ yếu về những khái niệm cơ bán cúa việc “mua lại sát thủ" trong thời đại phát triển hiện nay từ đó đưa ra các tiêu chí đánh giá và công cụ Cơ quan Cạnh tranh sừ dụng đê ngăn chặn một thương vụ mua lại sát thù. Chương này cũng sẽ thảo luận về những hậu quã mà sự bùng nồ cua những thương vụ “mua lại sát thú" gây ra đôi với thị trường cạnh tranh và nên kinh tê sô. Chương 3: Pháp luật về việc mua lại sát thủ đối vói một số nưóc trên thế giói Chương này chủ yếu sẽ tháo luận về các quy định pháp luật đối với vấn đề mua lại sát thủ của các nước trên thế giới, nhóm sẽ tiến hành tống họp và phân tích vấn đề này dựa trên các quy định của các nước trôn thế giới. Từ đó, cung cấp một cái nhìn tỏng quan về cách các quổc gia trên thế giới đổi phó với các thương vụ mua lại sát thủ đang bùng nô trên thị trường.
Chương 4: Pháp luật cạnh tranh Việt Nam trơng việc đối phó vói hiện tượng mua lại sát thủ 15 Chương này sc tập trung vicl VC các quy định cua pháp luật cạnh tranh Viột Nam đôi với các thương vụ mua bán và sáp nhập, cùng với việc mô tá thực tiên tình hình tập trung kinh tế tại Việt Nam. Nhóm nghiên cứu sẽ dựa vào các quy định pháp luật đà được chi ra ờ chương 3 và tiến hành đổi chiếu, so sánh với pháp luật cạnh tranh Việt Nam. Từ đó sè đánh giá các quy định của pháp luật Cạnh tranh Việt Nam vê vấn đề “mua lại sát thủ”. Chương 5: Một số kiến nghị đế giải quyết hiệu quả tình trạng mua lại sát thủ tại Việt Nam Dựa vào những phân tích, đánh giá Pháp luật Cạnh tranh cúa Việt Nam về vấn đề mua lại, nhóm nhận thấy rằng còn tồn tại những diêm hạn chế trong các quy định pháp luật khi đối phó với hiện tượng “mua lại sát thú”.
Qua đó, nhóm sẽ đưa ra một sổ kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật đê giải quyết hiệu quả tinh trạng mua lại sát thù ớ Việt Nam. Cơ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐÈ MUA LẠI SÁT THỦ 2. Giói thiệu Mua lại sát thủ là một vấn đề mới ở Việt Nam, vi thế trong chương này nhóm nghiên cứu sè lập trung làm rõ khái niệm mua lại sát thu, cùng như sự bùng nô của hiện tượng này trong nền kinh te số hiện nay và hậu quả đối với cạnh tranh và kinh tế; qua đó, phân tích được lý do phái ngăn chặn các thương vụ mua lại sát thủ. Ngoài ra, trong chương này, chúng tôi cũng sè giới thiệu sơ lược về điều kiện và khung đánh giá một thương vụ mua lại là thương vụ sát thù, ngưỡng thông báo mua lại sát thù và các công cụ mà Cơ quan Cạnh tranh sử dụng đê kiêm soát các thương vụ mua lại này, làm nền tảng cho nhừng phân tích chuyên sâu về các quy định pháp luật kiêm soát việc mua lại sát thú lại Chương 3.
Khái niệm mua lại sát thủ “Mua lại sát thủ" hay “thương vụ sát thủ"1 (Killer acquisition) là một vấn đề mới nôi trong những năm gân đây khi thị trường liên quan ngày càng trớ nên cạnh tranh gay gắt. Nghiên cứu thực nghiệm gần đây đà chi ra rằng trong một số trường hợp, việc mua lại những công ty mới thành lập dần đến việc mất đi sân phâm và gây nên hạn chế cạnh tranh, những trường hợp như vậy được gắn nhàn là “mua lại sát thú". Chris Pike (2020) đà dựa trên những nghiên cửu trong ngành dược phâm năm 2018 đã định nghĩa “những vụ mua lại sát thủ" rằng: "‘xác định xu hưởng các cóng ty lớn đương nhiệm mua lại các công ty mới thành lập và không ủp dụng phát triên sân phâm đã mua như đà từng được giá định mà bó qua và ngừng phát trỉên san phâm”. Cùng với đó, trong một nghiên cứu khác của Cunningham và cộng sự (2018) cũng đà chi ra răng: “các doanh nghiệp lớn cỏ thê cỏ ý mua lại các cong ty khởi nghiệp công nghệ (mục tiêu đôi mới) chí đẻ ngừng các dự ủn đôi mới của mục tiêu và ngăn chặn sự cạnh tranh trong tương lai, do đỏ ngàn chặn sự đôi mới cùa nhưng người chơi mục tiêu nhô hơn nảy".
Nghĩa là, một công ty đương nhiệm sè “giết chết" một công ty mới thành lập bằng cách mua lại công ly và ngừng phát triển hoặc sản xuất một sản phẩm gây rui ro tiêm ân cho dòng sàn phâm hiện tại của nó. Điêu này chủ yêu nhăm mục đích đóng cừa các công ty mới nôi, như vậy trong khi mua lại công nghệ mới nôi có tiềm năng cao và đội ngũ nhân viên chủ chổt, tất câ những điều này đồng thời loại bỏ mối đe dọa 1 Thuật ngừ mua lại sát thu và thương vụ sát thu có thế hoán đôi cho nhau. Qua đỏ, ta thấy rằng “một thương vụ sát thủ” SC gây ra hạn chế cạnh tranh trên thị trường và nâng cao rào cản gia nhập đôi với những công ty mới thành lập. Sự bùng nổ của mua lại sát thủ trong nền kinh tế số Trước đây, việc kiểm soát sáp nhập các công ly mới khới nghiệp chỉ là một vấn đề chưa thực sự quan trọng đe Cơ quan Cạnh tranh lo lắng vi họ cho rằng các công ty này có doanh thu thấp nên sẽ ít gây ảnh hường lên thị trường cạnh tranh.
Thế nhưng, vấn đê đáng lo ngại ờ đây là các thương vụ mua lại chiếm thị phần rất nhỏ mà cuối cùng nỏ trở thành một thương vụ mua lại đáng ke. Hiộn nay có rất nhiều thương vụ mưa lại được tiến hành trong lĩnh vực dược phẩm, thiết bị y tế như vào năm 2018, khi ngành dược phẩm xác định vấn đề “mua lại sát thủ", họ phát hiện ra rằng các công ty lớn tiến hành mua lại nhũng công ty nhỏ mà bỏ qua sán phấm và không phát triển sản phẩm theo hướng ban đầu. Ví dụ như, công ty Ọuestcor - cỏng ty độc quyền trên thị trường Thuốc kích thích tố vỏ thượng thận (ACTH) sờ hữu thuốc Acthar Gcl. Nhưng đến năm 2013 công ty này thực hiộn mua lại quyên phát triên của một đôi thú cạnh tranh với thuốc Acthar Gel nhưng sau đó công ty không cho phát triển sán phẩm.
Cunningham và cộng sự (2018) đà nghiên cứu phát hiện ra rằng trong lình vực dược phấm có lới 6% tông số vụ mua lại các công ty dược phẩm đang phát triển là những vụ mua lại sát thú. Điều quan trọng là, trong số các vụ sáp nhập được phân tích trong bài nghiên cứu, nhừng vụ sáp nhập có giá trị thấp hơn 5% so với ngường doanh thu của FTC Hoa Kỳ lại có khả năng trờ thành vụ mua lại sát thủ cao hơn 11,3% so với những vụ sáp nhập có giá trị cao hơn ngưỡng 5%. Có thế thấy rằng các vụ mua lại sát thủ không chi giới hạn trong mồi lình vực dược phẩm. Từ tiền đề nghiên cửu trong lĩnh vực dược phấm thì trong lĩnh vực kỳ thuật số cũng quan tâm đến các vụ mua lại sát thù.
Theo kết quá đánh giá của tạp chí The Economist (26/10/2018) trong lĩnh vực kỳ thuật số thì: “Trong 10 năm qua, Amazon, Apple, Facebook, Google vủ Microsoft đã tlĩực hiện khoảng 400 vụ mua lại trẻn toủn cầu. Châng hạn, vào năm 2017, Economist đà báo cáo rằng Alphabet (Google), Amazon, Apple, Facebook và Microsoft đâ cùng nhau chi 31,6 tý USD đê mua lại các công ty khởi nghiệp. Rất ít vụ sáp nhập trong so này nhận được đánh giá giai đoạn 1 của CMA (Competition and Markets Authority) và thậm chí còn ít vụ sáp nhập hơn được xem xét chi tiết. Tương tự như vậy, rat it đã được kiêm tra bởi Uy ban 18 Eư\ Và Gautier & Lamcsch (2020) cũng đà xem xét lại 175 vụ mua lại cùa Google, Amazon, Facebook, Amazon và Microsoft trong khoảng thời gian ba năm.
Họ phát hiện ra rằng trong 105 trường hợp, thương hiệu của các công ty mục tiêu đà bị ngừng sán xuất trong vòng một năm sau khi mua lại. Như vậy, trong lình vực kỳ thuật sổ van đề mua lại sát thú vần còn nhiều điêu đáng lo ngại và nguy hiêm hơn các lình vực khác hiện nay. Giái thích điều này là do trong lĩnh vực kỳ thuật số thi các công ty mới thành lập đa sô có doanh thu thâp, nên khi thực hiện các vụ mua lại sát thủ luôn năm dưới ngưỡng thông báo khiến cho Cơ quan Cạnh tranh khó kiêm soát, vi thế lợi dụng tình trạng đỏ các công ly lớn càng tiến hành nhiều thương vụ mua lại sát thủ hơn. Khi các thương vụ này diễn ra thì hậu quả ánh hường rất lớn đến người tiêu dùng và cả thị trường cạnh tranh bới các thương vụ sát thủ sè khiến cho môi trường thụ động hơn trong việc đôi mới và phát triên sản phâm.
Nhìn chung, các thương vụ “mua lại sát thủ” thường tập trung vào lình vực dược phẩm và kỳ thuật sổ. Tuy nhiên, trong lĩnh vực dược phâm khi một sán phâm được sản xuất ra thì chủ sờ hữu phải đăng ký bàng sáng chế nên Cơ quan Cạnh tranh sẽ dề dàng nắm bắt, kiêm soát hơn ben ngành kỳ thuật so (Chris Pike, 2020). Bên cạnh đó, đế phát triển và sán xuất ra một loại dược phẩm sẽ tổn nhiều vốn hơn vì quá trinh thừ nghiệm lâu dài, quy trình sán xuất chặt chẽ, độc đáo khác với bên lĩnh vực kỹ thuật sổ khi công ty không cần đưa ra thử nghiệm rộng rài mà có the cài tiến ngay trong quá trinh phát triên trên thị trường. Hơn thê nừa, con người sông trong thời đại 4.0 nên việc sử dụng các công nghệ ngày càng tăng lên theo nhu cầu sử dụng cùa người tiêu dùng.
Chính vì the công nghệ phái ngày càng phát triên, ngày càng đổi mới đế đem lại cho người tiêu dùng những trải nghiệm tốt nhất, đáp ứng nhu cầu cùa người tiêu dùng; nên trong lĩnh vực kỳ thuật sổ cạnh tranh sè ngày càng trờ nên gay gắt hơn dần đến việc các công ty đương nhiệm thường tim cách đê giám thiêu cạnh tranh, duy tri vị thê trong thị trường.