Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu tiềm năng tài nguyên đất hiếm ước tính khoảng 9,5 triệu tấn tổng oxyt đất hiếm (TR2O3), tập trung chủ yếu tại vùng địa chất Tây Bắc. Trong đó, mỏ Đông Pao thuộc huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu là mỏ đất hiếm kiểu nhiệt dịch - phong hóa có quy mô hàng đầu với trữ lượng xác định gồm 5.500 tấn TR2O3, 19.000 tấn Barit (BaSO4) và 6.000 tấn Fluorit (CaF2). Tuy nhiên, các khoáng vật đất hiếm như Bastnesit, Monazit và Xenotim tại đây luôn cộng sinh mật thiết với các đồng vị phóng xạ tự nhiên độc hại, đặc biệt là họ Thori (Th232) và Urani (U238).

Hoạt động thăm dò địa chất, mở hào, đào giếng và khai thác thử nghiệm đã làm xáo trộn nghiêm trọng cấu trúc tầng phủ, phá vỡ thế nằm nguyên sinh của các thân quặng. Dưới tác động của địa hình đồi núi dốc đứng 40 đến 50 độ và lượng mưa lớn trong năm, các chất phóng xạ bị hòa tan, rửa trôi và phát tán cơ học vào môi trường đất, nước, không khí và chuỗi thức ăn sinh học.

Nghiên cứu được triển khai trên diện tích hơn 30 km2 bao trùm xã Bản Hon (9,7 km2 với 1.173 dân cư) và xã Bản Giang (24,7 km2 với 1.591 dân cư), thực hiện trong giai đoạn 2012 - 2014. Mục tiêu cốt lõi của đề tài là xác định định lượng các thành phần môi trường phóng xạ, đánh giá sự gia tăng suất liều bức xạ trước và sau thăm dò, từ đó xây dựng các giải pháp kỹ thuật nhằm giảm thiểu nguy cơ chiếu xạ cho cộng đồng địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết trường bức xạ tự nhiên và cơ chế phân rã phóng xạ của ba họ cơ bản: họ Uranium (U238 chiếm 99,2745% tổng urani tự nhiên với hàm lượng 0,5 - 4,7 ppm trong đất đá), họ Thorium (Th232 với hàm lượng 1,6 - 20 ppm) và họ Actinium (U235 chiếm 0,72%). Bên cạnh đó, các đồng vị phóng xạ con cháu nguy hiểm như Radi (Ra226) và Radon (Rn222 có chu kỳ bán rã 3,82 ngày) được phân tích theo lý thuyết lan truyền khí phóng xạ và cân bằng phóng xạ thế kỷ.

Mô hình tính toán trường bức xạ gamma từ nguồn thể tích dạng đĩa hữu hạn lộ trên mặt đất được áp dụng để xác định sự suy giảm liều lượng gamma theo khoảng cách và hệ số làm yếu môi trường. Hệ quy chuẩn đánh giá dựa trên:

  • Tiêu chuẩn an toàn bức xạ ion hóa của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA 1996) và Tiêu chuẩn Liên bang Nga NRB-96 (suất liều gamma trong nhà dưới 0,3 µSv/h; nồng độ Rn tổng cộng dưới 100 Bq/m3).
  • Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 6866:2001, Nghị định 50/1998/NĐ-CP và Thông tư 19/2012/TT-BKHCN quy định giới hạn liều hiệu dụng toàn thân đối với nhân viên bức xạ là 20 mSv/năm và đối với công chúng là 1 mSv/năm; tổng hoạt độ alpha trong nước sinh hoạt dưới 0,1 Bq/l và tổng hoạt độ beta dưới 1,0 Bq/l.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu được xây dựng từ mạng lưới khảo sát thực địa kết hợp kế thừa tài liệu lưu trữ từ Liên đoàn Địa chất Xạ - Hiếm và Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam. Phương pháp đo đạc địa vật lý bức xạ được tiến hành ở độ cao 1 m so với mặt đất:

  • Đo suất liều chiếu ngoài gamma bằng thiết bị chuyên dụng DKS-96 và Inspector.
  • Đo phổ gamma hiện trường xác định hàm lượng U, Th, K bằng máy đo phổ đa kênh GAD-6 và GAD-7.
  • Đo nồng độ khí Radon trong không khí và hàm lượng Radium/Thoron trong nước bằng máy RAD-7 xuất xứ từ Mỹ sử dụng detector bán dẫn phân tích phổ alpha.

Quy trình lấy mẫu thực hiện nghiêm ngặt trên các đới trên, trong và dưới thân quặng: lấy mẫu đất ở độ sâu 5 - 10 cm theo mạng lưới ô vuông 3x3 m với khối lượng gộp 5 kg; mẫu nước lấy 2 lít tại 10 cm dưới mặt nước suối Nậm Hon, Nậm Mu và các mạch ngầm; mẫu thực vật 3 - 5 kg được sấy khô ở 105 độ C và tro hóa hoàn toàn ở 450 độ C trong 48 giờ. Toàn bộ mẫu đất, nước và tro thực vật được phân tích định lượng các chỉ tiêu U238, Th232, Ra226, K40 trên hệ phổ kế gamma phông thấp Ortec Gem-30 gắn đầu thu bán dẫn siêu tinh khiết HpGe. Ngoài ra, phương pháp điều tra xã hội học được thực hiện thông qua 50 phiếu phỏng vấn trực tiếp cư dân bản địa để ghi nhận hiện trạng sức khỏe và mô hình bệnh tật.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát địa chất và bức xạ tại mỏ Đông Pao đã khoanh định 15 thân quặng chính, trong đó các thân quặng quy mô lớn gồm F3 (dài 450 m), F7 (dài 1.000 m), F9 (dài 1.150 m) và F16 (dài 910 m). Thân quặng F3 có chất lượng vượt trội với kiểu quặng loại I chiếm 60,8% trữ lượng, hàm lượng TR2O3 đạt trung bình 13,59%, Barit đạt 42,46% và Flo đạt 22,81%.

Suất liều bức xạ gamma phông tự nhiên tại các khối xâm nhập magma vùng mỏ ghi nhận ở mức rất cao: phức hệ Ngòi Thia dao động 0,25 - 0,53 µSv/h (trung bình 0,36 µSv/h), phức hệ Pusamcap dao động 0,23 - 0,54 µSv/h (trung bình 0,35 µSv/h), phức hệ Nậm Xe - Tam Đường dao động 0,13 - 0,58 µSv/h. Các giá trị này đều cao gấp 2 đến 4 lần so với mức phông trung bình thông thường trong vỏ Trái Đất.

Sau các hoạt động đào hào thăm dò dọc các tuyến T1 và T2, lớp đất mặt bị bóc tách khiến các thân quặng giàu phóng xạ phát tán trực tiếp ra môi trường. Dữ liệu đo đạc cho thấy suất liều gamma tại các hào thăm dò bộc lộ tăng từ 30% đến 65% so với giai đoạn trước thăm dò. Nồng độ khí Radon trong không khí trên mặt các thân quặng phong hóa cũng tăng từ 40% đến 80%, vượt ngưỡng khuyến cáo 100 Bq/m3 tại nhiều điểm cục bộ.

Sự di chuyển của các chất phóng xạ trong môi trường nước và sinh vật diễn ra mạnh mẽ: hoạt độ phóng xạ của Ra226 và Th232 tại suối Nậm Hon (nhánh chảy cắt ngang thân quặng) tăng từ 1,5 đến 3 lần sau các đợt mưa lớn do hiện tượng rửa trôi bùn quặng. Trong tro thực vật của các loại cây lương thực trồng sát chân mỏ, hoạt độ K40 và họ U-Th tăng cao hơn từ 20% đến 45% so với vùng đối chứng. Khảo sát dịch tễ trên 50 hộ dân cho thấy tỷ lệ người dân mắc các chứng bệnh về mắt, viêm đường hô hấp và kích ứng da tại các thôn vùng hạ lưu đạt tỷ lệ từ 28% đến 48%.

Thảo luận kết quả

Sự biến động gia tăng của các thông số bức xạ bắt nguồn từ đặc tính địa hình karst hiểm trở, sườn núi dốc đứng kết hợp lượng mưa tập trung 15 - 20 ngày/tháng trong mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 8). Khi lớp phủ phong hóa bị đào bới trong quá trình thăm dò, quặng Bastnesit chứa Thori và Urani bị oxy hóa, vỡ vụn cơ học và hòa tan vào các dòng suối chính như Nậm Hon, Nậm Mu và Nậm Pé.

Việc khai thác thủ công quặng Fluorit tại các thân quặng F1, F2 và F4 kéo dài từ năm 1990 không có đê bao chắn bãi thải đã khiến hàng nghìn mét khối bùn chứa phóng xạ tràn xuống thung lũng. Kết quả phân tích mặt cắt biến thiên suất liều gamma và nồng độ khí Radon trên các tuyến khảo sát T1, T2 khi biểu diễn trực quan trên đồ thị phân bố không gian cho thấy rõ sự hình thành các vành phân tán địa hóa thứ sinh phóng xạ mở rộng từ tâm mỏ xuống các khu dân cư Bản Hon và Bản Giang.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Xây dựng hệ thống công trình kiểm soát phát tán phóng xạ: Đơn vị khai thác phải hoàn thiện 100% hệ thống đê bao, đập lắng thu gom nước mưa chảy tràn và bùn thải quặng tại các thân quặng F3, F7, F9 trong vòng 12 tháng trước khi cấp phép khai thác chính thức; áp dụng kỹ thuật tưới ẩm định kỳ trên các tuyến đường vận chuyển để giảm thiểu từ 75% đến 85% lượng bụi phóng xạ phát tán vào không khí.
  2. Thiết lập vành đai an toàn bức xạ và quy hoạch dân cư: Chính quyền huyện Tam Đường và Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Lai Châu cần thiết lập hành lang cách ly an toàn tối thiểu 800 m tính từ ranh giới các thân quặng chính; di dời toàn bộ các hộ dân đang sinh sống trong vùng có suất liều gamma vượt ngưỡng 0,30 µSv/h trước năm 2016; nghiêm cấm người dân canh tác nông nghiệp hoặc đào rãnh thủy lợi trên thân quặng bộc lộ.
  3. Quan trắc môi trường bức xạ tự động và định kỳ: Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật và Chi cục Bảo vệ Môi trường thiết lập 06 trạm quan trắc tự động đo suất liều gamma và nồng độ khí Radon tại các bản lân cận; định kỳ 3 tháng/lần lấy mẫu nước mặt, nước ngầm và trầm tích suối Nậm Hon để phân tích tổng hoạt độ alpha và beta theo chuẩn TCVN 6866:2001.
  4. Quản lý y tế và nâng cao nhận thức cộng đồng: Ngành y tế địa phương tổ chức khám sức khỏe định kỳ 6 tháng/lần cho 100% cán bộ, công nhân mỏ và cư dân xã Bản Hon, lập hồ sơ theo dõi liều chiếu tích lũy cá nhân; đồng thời triển khai các chương trình truyền thông song ngữ (tiếng Kinh và tiếng dân tộc H'Mông, Lừ) nhằm hướng dẫn người dân không sử dụng nguồn nước suối chưa qua xử lý.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Chủ đầu tư và doanh nghiệp khai khoáng: Cung cấp cơ sở dữ liệu nền về phân bố thân quặng và hàm lượng phóng xạ để lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), thiết kế mỏ an toàn và tuân thủ các quy chuẩn an toàn bức xạ quốc gia.
  • Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Cục An toàn Bức xạ và Hạt nhân, Sở TN&MT Lai Châu): Sử dụng các bản đồ phân vùng bức xạ và số liệu thực chứng để phê duyệt giấy phép khai thác, lập quy hoạch sử dụng đất và kiểm soát an toàn mỏ đất hiếm Đông Pao.
  • Các viện nghiên cứu, trường đại học và học viên chuyên ngành Môi trường - Địa chất: Nguồn tài liệu chuyên sâu về phương pháp khảo sát địa vật lý hạt nhân, xử lý mẫu tro hóa thực vật và kỹ thuật giải phổ bán dẫn HpGe trong đánh giá ô nhiễm khoáng sản phóng xạ.
  • Cơ quan y tế dự phòng và chính quyền địa phương: Tham khảo bộ số liệu dịch tễ để thiết kế chương trình tầm soát bệnh nghề nghiệp, bảo vệ nguồn nước sạch và chăm sóc sức khỏe cho người dân vùng Tây Bắc.

Câu hỏi thường gặp

Hoạt động thăm dò địa chất tại mỏ Đông Pao làm gia tăng mức độ ô nhiễm phóng xạ như thế nào?
Quá trình bóc lớp đất phủ phong hóa và đào hào thăm dò đã làm lộ các thân quặng giàu Bastnesit và Monazit chứa Urani và Thori. Dưới tác động của nước mưa và gió, các chất phóng xạ bị rửa trôi vào hệ thống thủy văn suối Nậm Hon và phát tán bụi khí Radon vào không khí, làm tăng suất liều gamma từ 30% đến 65% so với phông nền tự nhiên ban đầu.

Khí Radon (Rn222) tại khu vực mỏ gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe con người qua cơ chế nào?
Khí Radon sinh ra từ chuỗi phân rã của Urani và Radi, có chu kỳ bán rã 3,82 ngày và dễ dàng khuếch tán xa trong không khí. Khi xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp, Radon phân rã thành các hạt nhân con dạng rắn phát hạt alpha mang năng lượng cao, trực tiếp phá hủy cấu trúc tế bào biểu mô phế quản và làm tăng nguy cơ ung thư phổi.

Các quy chuẩn an toàn bức xạ chính nào được áp dụng để đánh giá môi trường tại mỏ đất hiếm Đông Pao?
Nghiên cứu áp dụng Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 6866:2001, Thông tư 19/2012/TT-BKHCN và Tiêu chuẩn Quốc tế IAEA 1996. Các tiêu chuẩn này quy định liều hiệu dụng tối đa cho công chúng là 1 mSv/năm, công nhân bức xạ là 20 mSv/năm; suất liều gamma không khí trong nhà không vượt quá 0,3 µSv/h; nồng độ Radon giới hạn dưới 100 Bq/m3.

Những thân quặng nào tại mỏ đất hiếm Đông Pao có nguy cơ phát tán phóng xạ cao nhất?
Các thân quặng F3, F7, F9, F10 và F16 có nguy cơ cao nhất do diện tích bộc lộ lớn trên sườn núi dốc và hàm lượng tổng oxyt đất hiếm cao (thân F3 đạt tới 13,59% TR2O3). Các thân quặng này nằm ngay đầu nguồn các khe suối đổ ra Bản Hon và Bản Giang, rất dễ bị xói mòn và cuốn trôi bùn quặng vào mùa lũ.

Người dân sống xung quanh khu vực mỏ có thể phòng tránh rủi ro nhiễm xạ bằng những biện pháp nào?
Người dân cần tuyệt đối tuân thủ không sử dụng trực tiếp nguồn nước mặt từ các suối chảy qua mỏ như suối Nậm Hon khi chưa qua hệ thống lọc lắng; không chăn thả gia súc hoặc canh tác lúa nước trực tiếp trên các thân quặng bộc lộ; xây dựng nhà ở thông thoáng để tránh tích tụ khí Radon trong phòng kín.

Kết luận

  • Luận văn đã xác định toàn diện hiện trạng môi trường phóng xạ tại mỏ đất hiếm Đông Pao với các thân quặng chính F3, F7, F9 chứa hàm lượng phóng xạ đi kèm đáng kể trong khoáng vật Bastnesit và Monazit.
  • Hoạt động thăm dò đã làm gia tăng suất liều bức xạ gamma và nồng độ khí Radon từ 30% đến 80% tại các khu vực thi công hào thăm dò, làm tăng lượng phát tán các chất phóng xạ vào đất, nước suối Nậm Hon và thảm thực vật.
  • Công trình đã thiết lập bộ bản đồ phân vùng môi trường phóng xạ và mô hình toán suy giảm liều gamma, đóng góp cơ sở dữ liệu thực chứng có giá trị khoa học cao cho công tác quản lý tài nguyên và an toàn bức xạ tại Lai Châu.
  • Các cấp chính quyền và doanh nghiệp cần khẩn trương thi công hệ thống đê chắn bãi thải, thiết lập vành đai cách ly an toàn 800 m và triển khai quan trắc tự động định kỳ 3 tháng/lần trước khi bước vào giai đoạn khai thác công nghiệp quy mô lớn.
  • Khai thác tài nguyên đất hiếm cần đi đôi với bảo vệ môi trường địa sinh thái và an toàn tính mạng cho cộng đồng dân cư thông qua việc kiểm soát nghiêm ngặt các rủi ro phát tán phóng xạ.