Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN HIỆN ĐẠI HÓA QUẢN TRỊ NỘI BỘ 1. Quản trị nhà nước và quản trị nội bộ 1. Quản trị nhà nước Khái niệm quản trị nhà nước Ngày nay, thuật ngữ “quản trị” được mở rộng sử dụng phổ biến ở các nước trên thế giới như quản trị nhà nước, quản trị doanh nghiệp, quản trị tổ chức, quản trị văn phòng, quản trị kinh doanh, quản trị các lĩnh vực hoạt động của nhà nước, của các tổ chức chính trị xã hội… Quản trị trở thành chức năng vốn có của mọi tổ chức, mọi hoạt động; phát sinh từ sự phân công lao động xã hội, từ sự cần thiết phải phối hợp hành động và nâng cao hiệu quả hoạt động của cá nhân, các bộ phận trong tổ chức dưới sự điều khiển của các nhà quản trị nhằm thực hiện có hiệu quả cao mục tiêu chung của tổ chức. Trong giáo trình “Những vấn đề cốt yếu của quản trị” của Harold Kootz, Cyril Odonnell, Heinz Weihrich nhận định rằng: có lẽ không có lĩnh vực hoạt động của con người quan trọng hơn là công việc quản trị, bởi vì mọi nhà quản trị ở mỗi cấp độ và trong mọi cơ sở đều có một nhiệm vụ cơ bản là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định.
Đối với James H.D Donnelly, JR James L Gibson và John M. Ivancevich trong giáo trình “Quản trị học cơ bản” lại quan niệm: quản trị là một quá trình do một hay nhiều người thực hiện nhằm phối hợp các hoạt động của những người khác để đạt được những kết quả mà một người hoạt động riêng rẽ không thể nào đạt được. 10 Luan van Henry Fayol – nhà hành chính, nhà quản trị người Pháp cũng quan niệm: “Quản trị là quá trình thực hiện các chức năng: hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát nhằm đạt được mục tiêu xác định”. Từ các quan niệm trên có thể hiểu: “Quản trị là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản trị đến đối tượng quản trị thông qua các hoạt động: hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra và sử dụng các nguồn lực của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đề ra”.
Từ thực tiễn hoạt động quản trị các lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế – xã hội và nhà nước, các nhà quản trị, các nhà khoa học đã tổng kết, đúc rút được các kiến thức, kỹ năng, phương pháp, kinh nghiệm và hệ thống hóa thành một lĩnh vực khoa học gọi là khoa học quản trị hay quản trị học. Quản trị các tổ chức cũng như quản trị nhà nươc (QTNN) đều có mục tiêu đạt hiệu quả cao thông qua việc thực hiện các chức năng chủ yếu của quản trị, như: hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra. QTNN theo nghĩa rộng là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước, do các cơ quan trong bộ máy nhà nước đảm nhiệm nhằm thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại của nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội nhằm mục đích ổn định và phát triển xã hội. QTNN với nghĩa trực tiếp và cụ thể là hoạt động thực thi quyền hành pháp, do các cơ quan hành chính công đảm nhiệm nhằm thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại, xây dựng, quản trị, trấn áp của nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển kinh tế – xã hội và các quy định của pháp luật, bảo đảm, duy trì sự ổn định, phát triển bền vững của đất nước và phục vụ người dân.
Như vậy, QTNN dưới góc độ của khoa học quản trị là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đến các quá trình, quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của công dân, thông qua các hoạt động: hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra và sử dụng các nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu của nhà nước, thực hiện có hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, 11 Luan van duy trì sự tồn tại và phát triển của nhà nước, phát triển kinh tế – xã hội và phục vụ đắc lực người dân. [43] Vai trò quản trị nhà nước Nhà nước trong quan niệm hiện đại là tổ chức đặc biệt của xã hội, bao gồm một lớp người được tách ra từ xã hội để chuyên thực hiện quyền lực, nhằm tổ chức và quản trị xã hội phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội cũng như lợi ích của lực lượng cầm quyền trong xã hội. QTNN cũng như quản trị nói chung có các vai trò cụ thể sau: Thứ nhất, QTNN có vai trò định hướng, dẫn đường cho các hoạt động kinh tế – xã hội, phát triển nhanh và bền vững, vai trò này thể hiện ở chức năng hoạch định, xây dựng, ban hành chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, thể chế, chính sách – các công cụ cần thiết, quan trọng và hữu dụng của QTNN. Thứ hai, QTNN có vai trò tổ chức, vai trò này thể hiện ở chỗ nó có sứ mệnh thiết lập bộ máy quản trị tối ưu và tuyển dụng, quản trị sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực làm việc trong bộ máy QTNN và tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, thể chế, chính sách vào thực tiễn cuộc sống.
Thứ ba, QTNN có vai trò lãnh đạo, điều hành phối hợp các hoạt động trong QTNN và khích lệ, động viên truyền cảm hứng, tạo động lực làm việc cho các chủ thể, các cá nhân tổ chức tham gia quản trị và các đối tượng QTNN. Năng lực, khả năng lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành là chìa khóa quyết định sự thành công của QTNN Thứ tư, QTNN có vai trò trong giám sát kiểm tra các hoạt động của các cơ quan, tổ chức nhà nước. Vai trò này thể hiện cụ thể ở chức năng kiểm tra của QTNN, thể hiện quyền uy của chủ thể QTNN. Quản trị nói chung, QTNN nói riêng không có giám sát, kiểm tra coi như không có quản trị.
QTNN cần có sự giám sát kiểm tra các hoạt động của các cá nhân, tổ chức tham gia quản 12 Luan van trị và các đối tượng của QTNN để giữ gìn trật tự công, lợi ích công, lợi ích của người dân và kịp thời phát hiện các sai sót, vi phạm trong QTNN, giúp QTNN đạt được các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra. [43] Đặc điểm quản trị nhà nước: QTNN là chức năng, nhiệm vụ chủ yếu đặc biệt quan trọng của Nhà nước, có các đặc điểm chủ yếu sau: Thứ nhất, mục tiêu, mục đích của QTNN là duy trì trật tự công, phục vụ lợi ích công, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. QTNN không vì mục tiêu lợi nhuận (phi lợi nhuận). Thứ hai, QTNN là một dạng quản trị xã hội mang tính quyền lực, sử dựng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của người dân, phù hợp với các quy luật khách quan và theo mục tiêu, ý chí của chủ thể QTNN.
Thực chất, bản chất của QTNN là hoạt động mang tính chấp hành và điều hành của chính quyền hành pháp, hành chính nhà nước. Cụ thể, đó là quyền chấp hành, thực thi pháp luật và quyền quản trị tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội, nhà nước, các lĩnh vực đối nội và đối ngoại của nhà nước. Thứ ba, chủ thể QTNN là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp, trong đó cơ quan có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và thẩm quyền trực tiếp QTNN là cơ quan hành pháp, đứng đầu là chính phủ, Thủ tướng chính phủ, các bộ, ngành trung ương và chính quyền địa phương các cấp. Thứ tư, đối tượng hay khách thể QTNN rộng lớn và phức tạp, gồm những người dân, cộng đồng dân cư và các tổ chức sinh sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, các quá trình, quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của người dân, các lĩnh vực hoạt động của đời sống kinh tế – xã hội và Nhà nước.
13 Luan van Thứ năm, QTNN bằng ý chí quyền lực và sức mạnh của Nhà nước thể hiện trong các công cụ đặc thù như: thể chế – pháp luật, chính sách của nhà nước và sử dụng các nguồn lực của nhà nước, bao gồm: nguồn nhân lực, nguồn lực tài nguyên, thiên nhiên, nguồn lực kinh tế – tài chính, nguồn lực khoa học – công nghệ và các nguồn lực khác. Thứ sáu, QTNN đối với bất kỳ quốc gia nào cũng đều mang tính chính trị, phục vụ chính trị. Bởi vì nhà nước là tổ chức quyền lực mang tính chính trị, thể hiện ý chí của đảng chính trị, đảng cầm quyền. Ý chí đó được các cơ quan trong bộ máy quản trị nhà nước thể chế hóa, cụ thể hóa thành luật pháp, chính sách để đưa vào cuộc sống.
QTNN mang tính chính trị, phục vụ chính trị, nhưng cũng có tính độc lập tương đối ở tính khoa học, tính chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật, yếu tố bảo đảm hiệu lực, hiệu quả cao của QTNN. Thứ bảy, QTNN mang tính dân chủ. QTNN ngày nay không phải là cai trị, không mang tính chất độc đoán chuyên quyền, mệnh lệnh hành chính đơn phương mà là quản trị một cách dân chủ theo tinh thần nhà nước pháp quyền, bảo đảm quyền của người dân tham gia vào QTNN, thông qua các hình thức dân chủ tập trung, dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp, bằng các phương pháp, kỹ năng, kỹ thuật – công nghệ hiện đại, mở rộng và phát huy dân chủ, thu hút mạnh mẽ người dân và các tổ chức xã hội vào QTNN, vào việc tư vấn phản biện cho thể chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch của QTNN, tạo ra đồng thuận cao trong xã hội; quản trị một cách công khai minh bạch và đề cao trách nhiệm giải trình của các chủ thể QTNN trước người dân và công luận. Thứ tám, QTNN mang tính định hướng, chủ động và sáng tạo thông qua hoạt động hoạch định, xây dựng, ban hành và chỉ đạo tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch với mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, phương pháp và các nguồn lực cụ thể.
14 Luan van Thứ chín, QTNN mang tính tổ chức trực tiếp của chủ thể QTNN trên mọi lĩnh vực, mọi ngành, mọi mặt của đời sống kinh tế – xã hội và nhà nước thông qua tổ chức bộ máy quản trị và nguồn nhân lực QTNN (đội ngũ công chức chuyên trách là QTNN). Thứ mười, QTNN có tính chất tổng hợp, đa dạng, toàn diện.