ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Khái niệm Tâm thần phân liệt (Schizophrenia) là một bệnh loạn thần nặng, tiến triển từ từ có khuynh hướng trở thành bệnh mãn tính, căn nguyên chưa rõ, nhân cách của người bệnh bị biến đổi theo kiểu phân liệt, người bệnh tách dần ra khỏi cuộc sống bên ngoài, thu dần vào thế giới bên trong, làm cho tình cảm của người bệnh trở nên khô lạnh, học tập và làm việc sút kém, không muốn tiếp xúc với mọi người xung quanh [1]. Hình 1: Tâm thần phân liệt 2. Trên thế giới - Bệnh này khá phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới, theo tổ chức y tế thế giới bệnh chiếm tỷ lệ từ 0,3 đến 1% dân số[9].
Theo thống kê của Chương trình Quốc gia, ở nước ta tỉ lệ bệnh tâm thần phân liệt là 0,47% [4]. Các trường hợp mãn tính (bệnh đã tiến triển trên 2 năm) chiếm 81% đến 95%. Tỷ lệ tái phát rất cao 88% - 94% [10]. - Tổ chức y tế Thế giới dự đoán rằng những vấn đề tâm thần và bệnh tâm thần sẽ là gánh nặng bệnh tật hàng đầu của thời kỳ sau năm 2020 [5].
Năm 2002, nghiên cứu dịch tễ học bệnh tâm thần của Trần Văn cường trên 7 vùng kinh tế-văn hóa-xã hội của Việt nam cho kết quả 2,8% dân số có biểu hiện trầm cảm, 2,6% dân số có biểu hiện lo âu và rối loạn hành vi ở thanh thiếu niên chiếm 0,9% dân số [4]. 2 - Trong gần một thế kỷ qua các nhà tâm thần học trên toàn thế giới đã tập trung nghiên cứu về bệnh này vì đây là một bệnh tâm thần nặng và phức tạp nhất [1]. Bệnh thường gây ra hậu quả nghiêm trọng cho bản thân người bệnh và những người xung quanh như: mất khả năng học tập và lao động, mất khả năng tham gia các hoạt động xã hội, không tự nuôi sống hoặc không có khả năng tự chăm sóc bản thân, làm giảm sút nghiêm trọng chất lượng cuộc sống và trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Chăm sóc, quản lý và điều trị tốt bệnh nhân tâm thần phân liệt ở các bệnh viện chuyên khoa tâm thần cũng như ở mỗi gia đình người bệnh là việc làm hết sức cần thiết để ngăn ngừa và dự phòng các hành vi nguy hiểm có nguy cơ xảy ra bất cứ lúc nào như: giận dữ, bạo lực, kích động, tự sát và gây hấn (Pettit G.
Tại Việt Nam - Theo thống kê của phòng Kế hoạch tổng hợp bệnh viện Tâm thần Nam Định năm 2008 có 1420 người bệnh nhập viện trong đó người bệnh TTPL là 568 chiếm tới 40%, năm 2014 số lượt người bệnh TTPL phải vào viện điều trị là 703 người, chiếm 37,1%. Như vậy có thể thấy số lượt người bệnh TTPL vào viện điều trị chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng số bệnh nhân vào viện Tâm thần tỉnh Nam Định điều trị [ 11]. - Ở Việt Nam khi đất nước đang trong giai đoạn phát triển cạnh tranh thì các yếu tố như công nghệ càng hiện đại, cuộc sống căng thẳng, tốc độ đô thị hóa cao cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc thúc đẩy bệnh tâm thần phân liệt phát sinh và phát triển khiến cho bệnh TTPL ngày càng gia tăng. Tuy nhiên người dân ở nước ta lại chưa thực sự quan tâm và hiểu biết nhiều về bệnh cũng như cách chăm sóc khi bị bệnh.
Do đó tôi thực hiện bài khóa luận “Thực trạng và một số biện pháp nâng cao hiệu quả chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt tại bệnh viện tâm thần tỉnh Nam Định” nhằm đưa ra các mục tiêu cụ thể sau đây: • Thực trạng chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt tại bệnh viện tâm thần tỉnh Nam Định. • Đề xuất một số biện pháp thích hợp nâng cao hiệu quả chăm sóc cho người bệnh tâm thần phân liệt tại bệnh viện tâm thần tỉnh Nam Định. 3 Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Một số đặc điểm chung về bệnh tâm thần phân liệt.
Bệnh tâm thần phân liệt (TTPL) là một bệnh loạn thần nặng tiến triển từ từ, có khuynh hướng trở thành mạn tính, căn nguyên hiện nay chưa rõ ràng, làm cho nhân cách của người bệnh bị biến đổi theo kiểu phân liệt, dần dần tách khỏi cuộc sống bên ngoài, thu dần vào thế giới bên trong, làm cho tình cảm trở nên khô lạnh, khả năng làm việc và học tập ngày càng sút kém, không muốn tiếp xúc với mọi người xung quanh[1]. Hình 2: Tâm thần phân liệt - Theo Tổ chức y tế thế giới, bệnh TTPL gây ra cấc rối loạn đụng chạm đến các chức năng cơ bản nhất, những chức năng làm cho người bệnh có cảm giác về cá tính, tính độc đáo và tính tự điều khiển mình. Theo khái niệm của nhà nghiên cứu thì bệnh TTPL: Shizophrenia (TTPL) bắt nguồn từ Hy Lạp: “shzio” có nghĩa là chia cắt, “phrenia” có nghĩa là tâm thần. Đặc trưng với bệnh này là sự rối loan tính thống nhất, tính toàn vẹn của tâm thần và sự không hòa hợp giữa hoạt động tâm thần với các kích thích ngoại cảnh.
- Theo Bleuler E, nét đặc trưng nhất của bệnh TTPL gồm 4 chữ A( Rối loạn sự liên tưởng: Assocition, rối loạn cảm xúc: Affect, tự kỉ: Autims, tính hai chiều trái ngược: Ambivalance. (1911) nhà tâm thần học Thuỵ sĩ, thấy rằng sự mất trí không phải là đặc điểm thường xuyên của sa sút sớm. Và Ông đã đề xuất thuật ngữ "Schizophrenia - bệnh tâm thần phân liệt", có nghĩa là sự chia cắt trong tâm thần. Và được toàn thế giới sử dụng cho đến bây giờ [12].
Trong gần một thế kỷ qua, các nhà khoa học trên thế giới đã tập trung trí tuệ nghiên cứu bệnh này, vì đây là một bệnh loạn thần nặng nhất và phức tạp nhất. Tóm lại đa số các nhà tâm thần học đều thống nhất rằng: bản chất của bệnh TTPL là sự chia cắt tính thống nhất của hoạt động tâm thần, gây rối loạn các chức năng tâm thần. Quá trình tiến triển mạn tính của bệnh dẫn đến sự biến đổi nhân cách người bệnh theo kiểu phân liệt: thiếu hoà hợp, tự kỷ, tư duy nghèo nàn, cảm xúc cùn mòn, trí tuệ sa sút, hành vi lập dị thụ động. Tình hình bệnh tâm thần phân liệt và một số nghiên cứu trong và ngoài nước 2.
Trên thế giới. - TTPL nói riêng và rối loạn tâm thần nói chung hiện nay ngày càng gia tăng cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Nhiều công trình điều tra trên thế giới gần đây cho thấy có 30% dân số Mỹ mắc các rối loạn tâm thần, 20% bị rối lạo tâm thần ít nhất 1 lần trong đời, trong đó bệnh TTPL là 1,5% dân số (rối loạn trầm cảm 1 cực là 6%, rối loạn trầm cảm 2 cực là 1%, nghiện rượu là 13,3%, rối loạn tâm căn là 3-8%). Một điều tra tại Bangkok (Thái Lan) năm 2011 cho thấy tỉ lệ mắc phải trong đời của TTPL là 1,3% [12].
Tại Úc bệnh này hiện đang ảnh hưởng đến 200.000 người và gây tổn thất về thu nhập lên tới 488 triệu USD, cộng thêm 88 triệu USD phát sinh từ chi phí cho những người chăm sóc người bệnh (Access Economics 2009). - Theo thông cáo báo chí của WHO năm 2001, trên thế giới cứ 4 người thì có một người sẽ mắc chứng rối loạn tâm thần hoặc rối loạn thần kinh vào một thời điểm nào đó trong đời và hiện có 450 triệu người bị ảnh hưởng bởi chứng bệnh này, trogn đó có 24 triệu người mắc chứng bệnh TTPL. - Nghiên cứu của Peuter đã chứng minh rằng khi các triệu chứng báo hiệu bệnh TTPL được phát hiện sớm, điều trị kịp thời, khẩn trương (ngoại trú tại nhà) 5 thì chỉ có 6% người bệnh phải nhập viện lại. Như vậy nếu người nhà được cung cấp đầy đủ kiến thức về bệnh và cách chăm sóc người bệnh sẽ giảm tái phát [13].
- Như vậy nếu có liệu pháp chăm sóc lao động, hoạt động và tái thích ứng xã hội phù hợp sẽ giúp người bệnh tái hòa nhập cộng đồng dễ dàng. - Ngày 19/11/2009 – Theo kết quả một nghiên cứu quốc tế trên 17.000 bệnh nhân TTPL ở 37 quốc gia cho thấy một kết quả rất giống nhau về các triệu chứng bệnh, tình trạng sử dụng thuốc, việc làm, suy giảm tình dục và phương pháp chăm sóc tại gia đình. Nghiên cứu này kéo dài trong 3 năm, với 17.384 người bệnh TTPL. Sự giống nhau này đã gợi ý cho một quy tắc chung trên toàn thế giới cho việc sử dụng thuốc, chế độ chăm sóc đối với người bệnh TTPL [13].
Tại Việt Nam - Trước kia nước ta không có một cơ sở chữa bệnh tâm thần, không có thầy thuốc và cũng không có tài liệu về bệnh tâm thần nói chung và bệnh TTPL nói riêng mà chỉ có những thầy lang có bài thuốc cổ truyền chữa bệnh. Bên cạnh đó còn có những bài thuốc chữa bệnh mang tính mê tín dị đoan như: cúng lễ, lên đồng, thờ cúng …. - Thời kỳ thực dân Pháp, suốt 80 năm thống trị gần như không làm gì để chữa bệnh mà chỉ cho xây dựng 2 nhà thương điên ở Biên Hòa và ở Bắc Giang. Ngoài ra còn có 1 khu điên ở bệnh viện Bạch Mai.
Nhưng thực chất các cơ sở này chỉ là khu giam giữ người bệnh. - Sau ngày giải phóng thủ đô (1954) Đảng, Chính phủ và Bộ Y Tế đã quan tâm đến ngành tâm thần học. Từ đây ngành tâm thần học ở Việt Nam đã phát triển nhanh chóng. - Năm 1957 bộ môn Thần kinh và tâm thần học trường Đại học y Hà Nội được thành lập.
- Năm 1962 Hội thần kinh Tâm thần và phẫu thậu thần kinh ra đời, đánh dấu một bước tiến mới của ngành tâm thần. - Năm 1963, bệnh viện tâm thần Thường tín được thành lập, tiếp nhận người bệnh từ các tỉnh chuyển về và từ năm 1969 trở thành bệnh viện tâm thần Trung ương giúp ngành y tế trong việc chỉ đạo ngành Tâm thần [14][15] 6 - Một số nghiên cứu đã có gồm: Theo nghiên cứu Nguyễn Minh Hải tỷ lệ người bệnh TTPL uống thuốc đều tại thị trấn Vĩnh An chiếm 75%, tuy nhiên vẫn có khoảng 20,4% người bệnh uống thuốc không đều và 4.06% người bệnh bỏ điều trị. Cũng theo nghiên cứu của Minh Hải tại huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Đánh giá kiến thức của gia đình khi chăm sóc người bệnh TTPL kết quả cho thấy có tới 10,2% số gia đình cho rằng điều trị bệnh TTPL chỉ cần uống thuốc một thời gian khi bị bệnh, 6,2% không biết câu trả lời.
Như vậy có thể thấy việc chăm sóc người bệnh TTPL vẫn còn hạn chế [16].