PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kế toán, KTQT cũng từng bước phát triển và thông tin do HTTT KTQT cung cấp ngày càng trở nên hữu ích. HTTT KTQT cho thấy vai trò không thể thiếu trong hoạt động quản lý của mỗi doanh nghiệp. HTTT KTQT trước hết được xem như là công cụ giúp các nhà quản trị xây dựng kế hoạch và lập dự toán hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như tổ chức các nguồn lực để thực hiện các kế hoạch và dự toán đã lập.
Bên cạnh đó, HTTT KTQT là biện pháp giúp các nhà quản trị kiểm tra, đánh giá quá trình và kết quả hoạt động, nhận diện các sai lệch, từ đó xác định nguyên nhân và tìm ra các giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động. HTTT KTQT còn là nguồn thông tin giúp ích cho các nhà quản trị ra các quyết định đúng đắn và kịp thời, nắm bắt những cơ hội mà thị trường mang lại. Đặc biệt, các doanh nghiệp Việt Nam đang đón nhận một làn sóng công nghệ mới do cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đem lại, HTTT KTQT cần có sự thích nghi, đổi mới để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu thông tin của nhà quản trị doanh nghiệp. Mặc dù đóng vai trò quan trọng như vậy, tuy nhiên tổ chức KTQT nói chung và tổ chức HTTT KTQT nói riêng vẫn chưa thực sự được quan tâm một cách đúng mức cả từ phía các cơ quan ban hành luật Nhà nước cũng như tại các doanh nghiệp.
Về phía các cơ quan Nhà nước, năm 2003, tại Quốc Hội khóa XI kỳ họp thứ 3, lần đầu tiên thuật ngữ KTQT được đề cập trong Luật kế toán ngày 17/6/2003 và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2004. Luật kế toán đã quy định về KTQT ở các đơn vị như sau: KTQT là việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán (Luật Kế toán Việt Nam - điều 3, khoản 4). Năm 2006, Bộ tài chính ban hành thông tư Số: 53/2006/TT-BTC về hướng dẫn áp dụng KTQT trong doanh nghiệp. Từ đó đến nay, không có bất kỳ văn bản nào quy định, hướng dẫn cũng như định hướng phát triển từ phía các cơ quan nhà nước đối với KTQT nói chung và tổ chức HTTT KTQT nói riêng.
Còn về phía các doanh nghiệp, mặc dù các thông tin liên quan đến tài chính và phi tài chính rất quan trọng nhưng vấn đề tổ chức HTTT KTQT để cung cấp các thông tin đó chưa được chú trọng, quan tâm thực hiện. Vấn đề tổ chức HTTT KTQT 2 vẫn còn nhiều bất cập, do đó thông tin do hệ thống cung cấp chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu quản trị doanh nghiệp trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế. Đối với ngành sản xuất bánh kẹo, hiện tại Việt Nam có khoảng 30 doanh nghiệp trong nước và hàng trăm cơ sở sản xuất nhỏ. Đây là một trong những ngành có mức tăng trưởng cao từ 8 – 10%/năm.
Trên địa bàn Hà Nội, những doanh nghiệp cổ phần sản xuất bánh kẹo chiếm thị phần lớn phải kể đến công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà, công ty cổ phần thực phẩm Hữu Nghị với thị phần lần lượt là 5% và 3%. Bên cạnh đó còn có một số công ty có bề dày lịch sử kinh doanh trong ngành bánh kẹo như là công ty cổ phần Tràng An, công ty cổ phần bánh mứt kẹo Hà Nội, công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu. Tuy nhiên, các doanh nghiệp cổ phần sản xuất bánh kẹo trên địa bàn Hà Nội đang phải đối mặt với áp lực cạnh tranh từ thị trường nội địa và đặc biệt là thị trường ngoại nhập. Những thương hiệu bánh kẹo nội địa có uy tín cũng dần bán lại cổ phần cho các tập đoàn nước ngoài.
Năm 2016, thương hiệu bánh kẹo nổi tiếng Kinh Đô cũng đã chuyển nhượng hoàn toàn cổ phần mảng bánh kẹo cho Tập đoàn Mondelēz International, chấm dứt hoạt động trong mảng này. Tập đoàn Lotte nắm giữ hơn 40% cổ phần của công ty cổ phần BIBICA. Trong cuộc cạnh tranh khốc liệt này, để có thể tồn tại và phát triển được, các nhà quản trị doanh nghiệp rất cần những thông tin liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung để đưa ra các quyết định đúng đắn trong chỉ đạo kinh doanh. Một trong những công cụ có thể cung cấp thông tin hữu ích đó là KTQT.
Tổ chức HTTT KTQT tốt sẽ giúp xử lý, phân tích số liệu và cung cấp thông tin một cách nhanh chóng hỗ trợ cho việc ra quyết định kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, tại các doanh nghiệp cổ phần sản xuất bánh kẹo trên địa bàn Hà Nội hiện nay, tổ chức HTTT KTQT vẫn còn nhiều hạn chế như là việc bố trí, sắp xếp con người thực hiện các nhiệm vụ trong hệ thống còn chồng chéo; sự phối kết hợp giữa các cá nhân, phòng ban trong doanh nghiệp chưa có sự nhịp nhàng; các quy trình thực hiện công việc thu thập, xử lý dữ liệu và cung cấp thông tin vẫn còn chưa cụ thể, rõ ràng; ứng dụng CNTT trong hệ thống vẫn còn chưa có sự đổi mới để bắt kịp với xu hướng công nghệ 4.0… Những hạn chế này dẫn đến các thông tin mà hệ thống cung cấp chưa phản ánh đầy đủ, kịp thời và chính xác giúp các nhà quản trị đưa ra quyết định nhanh chóng nhằm tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Các nhà quản trị trong doanh nghiệp vẫn chưa thấy được tầm quan trọng của việc tổ chức HTTT KTQT. Chính vì vậy, khi nhà quản trị cần các thông tin phục vụ việc ra 3 quyết định hay lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, hầu như không có cơ sở tin cậy từ thực tiễn.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, nghiên cứu sinh chọn đề tài “Tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị trong các doanh nghiệp cổ phần sản xuất bánh kẹo trên địa bàn Hà Nội” làm luận án của mình, với mong muốn thiết lập được HTTT KTQT trong các doanh nghiệp cổ phần sản xuất kinh doanh bánh kẹo để giúp nhà quản trị có cơ cở vững chắc đưa ra các quyết định kinh doanh một cách nhạy bén và kịp thời, nâng cao được lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập. Tổng quan tình hình nghiên cứu 2. Các nghiên cứu về tổ chức HTTT KT và tổ chức HTTT KTQT Vấn đề tổ chức HTTT KT và tổ chức HTTT KTQT được các tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu dưới nhiều hình thức khác nhau, bao gồm: sách tham khảo, chuyên khảo, luận án và bài báo. Các nghiên cứu là sách tham khảo, chuyên khảo về tổ chức HTTT KT và tổ chức HTTT KTQT Về tổ chức HTTT KT, có những công trình nối bật như: Sách tham khảo “Accounting Information System” của tác giả J.L Boockholdt; cuốn “Accounting Information System” của tác giả Marshall B, Romney, Pauljohn Steinbart; sách “Hệ thống thông tin kế toán” (2008) của tác giả Nguyễn Thế Hưng; sách “Hệ thống thông tin kế toán” (2010) của các tác giả Ngô Hà Tấn và Nguyễn Hữu Cường; sách “Hệ thống thông tin kế toán” của các tác giả Nguyễn Mạnh Toàn, Huỳnh Thị Hồng Hạnh (2011); sách “Hệ thống thông tin kế toán” (2014) của các tác giả Thiều Thị Tâm, Nguyễn Việt Hưng, Nguyễn Quang Huy, Phan Đức Dũng - hiệu đính (2014).
Tất cả các cuốn sách trên đều có sự thống nhất về khái niệm HTTT KT đó là hệ thống thu thập, lưu trữ, xử lý và cung cấp thông tin kế toán trong doanh nghiệp và HTTT KT bao gồm hai hệ thống con đó là HTTT KTTC và HTTT KTQT. HTTT KTTC nhằm cung cấp thông tin phục vụ cho những đối tượng ở bên ngoài doanh nghiệp còn HTTT KTQT sẽ cung cấp thông tin phục vụ cho quản trị nội bộ doanh nghiệp. HTTT KT là phần giao thoa giữa kế toán và HTTT. Trong đó, phần kế toán nhấn mạnh đến vai trò cung cấp thông tin để ra các quyết định, còn phần HTTT liên quan đến việc tổ chức, quản lý hệ thống để cung cấp thông tin.
Tuy nhiên, khi đề cập đến các thành phần của HTTT KT thì lại có hai cách tiếp cận khác 4 nhau. Nhóm tác giả Nguyễn Mạnh Toàn, Huỳnh Thị Hồng Hạnh và nhóm tác giả Thiều Thị Tâm, Nguyễn Việt Hưng, Nguyễn Quang Huy, Phan Đức Dũng đã dựa trên nghiên cứu sẵn có của HTTT với sự phát triển ngày càng nhanh của CNTT để định hướng cho kế toán. Nhóm tác giả này cũng cho rằng để xây dựng HTTT KT thì phải có ba thành phần cơ bản đó là Con người, Thủ tục và Dữ liệu. Và trong điều kiện ứng dụng CNTT, HTTT KT sẽ gồm năm thành phần bao gồm ba thành phần cơ bản và bổ sung thêm hai thành phần nữa đó là Phần cứng và Phần mềm.
Đối với nhóm tác giả còn lại đã dựa trên các nghiên cứu sẵn có của kế toán định hướng ứng dụng CNTT. Cụ thể, tác giả J.L Boockholdt, Marshall B, Romney, Pauljohn Steinbart, tác giả Nguyễn Thế Hưng, HTTT KT sẽ được vận hành theo các chu trình hoạt động kinh doanh gồm Chu trình doanh thu, Chu trình Chi phí, Chu trình chuyển đổi và Chu trình Tài chính. Các tác giả Ngô Hà Tấn, Nguyễn Hữu Cường lại có cách tiếp cận tổ chức HTTT KT theo các phần hành bao gồm TSCĐ, NVL và CCDC, tiền lương, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, tiêu thụ và kết quả kinh doanh. Như vậy, tổ chức HTTT KT được các tác giả tiếp cận trên 3 góc độ đó là: theo yếu tố cấu thành, theo các chu trình và theo các phần hành.
Các nghiên cứu là tài liệu tham khảo, chuyên khảo kể trên về HTTT KT đã hệ thống hóa được các vấn đề lý luận cơ bản và trở thành nguồn tài nguyên được sử dụng rộng rãi phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ đề cập đến lý luận tổ chức HTTT KT nói chung mà không đi sâu về lý luận tổ chức HTTT KTQT. Các công trình nghiên cứu lý luận chuyên sâu về tổ chức HTTT KTQT hiện nay vẫn còn khá hiếm. Đối với tài liệu nước ngoài, hai cuốn được tái bản nhiều lần đó là cuốn “Management Accounting for Decision Makers, của các tác giả Peter Atrill and Eddie McLaney (2009) và cuốn “Management Accounting: Information for Decesion-Making and Strategy Execution” của nhóm tác giả Atkinson, A.
(2012) có đề cập đến HTTT KTQT nhưng rất ít trong tổng thể nghiên cứu. Bên cạnh đó, mặc dù không tái bản nhiều lần nhưng cuốn “Accounting for Managers: Interpreting accounting information for decision-making” của tác giả Paul M.