PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do hình thành đề tài: Theo Bộ trƣởng Bộ Xây dựng Trịnh Đình Dũng, ngành Xây dựng Việt Nam đang ngày càng khẳng định là ngành công nghiệp quan trọng của đất nƣớc. Cụ thể là ngành có tỷ trọng đóng góp trong cơ cấu GDP ngày càng tăng. Năm 2010, tỷ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng đạt 41% GDP, trong đó lĩnh vực xây dựng chiếm khoảng 10,3% GDP.
Hàng năm có hàng chục ngàn công trình xây dựng đƣợc triển khai xây dựng trên phạm vi toàn quốc (Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam, 2011). Để đáp ứng nhu cầu đầu tƣ xây dựng của đất nƣớc, các doanh nghiệp Ngành Xây dựng thuộc các thành phần kinh tế ngày càng phát triển mạnh mẽ trong đó có các doanh nghiệp tại Tây Nguyên. Theo số liệu thống kê năm 2010, cả nƣớc có khoảng 36.000 doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng, với khoảng 1,38 triệu lao động, trong đó 30.000 doanh nghiệp tham gia xây dựng dân dụng thông thƣờng và 6.000 doanh nghiệp xây dựng các công trình chuyên dụng. Theo nguồn số liệu của tổng cục thống kê Việt Nam, tỷ lệ đóng góp vào GDP và quá trình tăng trƣởng của ngành xây dựng đƣợc thể hiện ở biểu đồ dƣới đây: Hình 1.1:Tăng trưởng GDP và lĩnh vực xây dựng(tính theo giá thực tế) Từ biểu đồ số liệu thống kê trên, ta có thể nhận thấy ngành xây dựng đóng một vai trò quan trọng trong tỉ trọng kinh tế, trong những năm gần đây tỷ lệ tăng Luận văn thạc sỹ HVTH: Hồ Xuân Dương CBHD: PGS.
Nguyễn Đình Thám Trang 6 trƣởng của ngành xây dựng đã vƣợt qua tỷ lệ tăng trƣởng chung của nền kinh tế. Nhƣng nhìn toàn cục ngành xây dựng Việt Nam và cụ thể là ở khu vực Tây Nguyên ở góc độ chi tiết hơn, có thể thấy còn quá nhiều khiếm khuyết trong quản lý, kỹ thuật cần cải tiến, nhà thầu tại Tây Nguyên hầu nhƣ không hề có tên tuổi trên đấu trƣờng trong nƣớc và quốc tế. Thậm chí đối với các dự án trong khu vực, có hàng loạt các dự án hàng trăm tỷ đồng đang đƣợc các nhà thầu trong nƣớc thực hiện hết sức ỳ ạch, chậm tiến độ, vƣợt chi phí gây thiệt hại rất lớn về mặt kinh tế, xã hội. Đối với một ngành kinh tế mũi nhọn nhƣ ngành công nghiệp xây dựng thì đây quả là một thực tế đáng buồn.
Có lẽ đã đến lúc các nhà quản lý nên nhìn nhận thẳng thắn vào vấn đề rằng chúng ta cần cải tổ phƣơng pháp quản lý trong xây dựng, để tránh những lãng phí không đáng có do quản lý kém hiệu quả, và không phù hợp, từng bƣớc tăng nội lực và sự chuyên nghiệp của các nhà thầu trong khu vực, để từ đó mới có thể vƣơn lên tầm cao mới. Để cải tổ công tác quản lý dự án của các nhà thầu xây dựng, ta có thể nhìn vào những môi trƣờng xây dựng quốc tế chuyên nghiệp để học hỏi. Ở các nƣớc có nền xây dựng phát triển khác nhƣ Mỹ, Nhật, Australia, Malysia, Brazil, Hàn Quốc…một hệ thống quản lý tích hợp tiến độ, chi phí và khối lƣợng công việc của một dự án xây dựng là rất phổ biến và đƣợc chính phủ ban hành tiêu chuẩn một cách chính thống, bởi vì khi kích thƣớc dự án lớn và phức tạp thì nhu cầu một phƣơng pháp tích hợp quản lý chi phí, tiến trình và đo lƣờng sự thực hiện dự án gia tăng, chúng ta cần biết khi nào những biện pháp quản lý cần dùng đến, dùng nơi nào và dùng ở mức độ ra sao. Quá trình xây dựng tiến độ dự án sẽ thay đổi do nhiều yếu tố chủ quan, khách quan khác nhau.
Khi tiến độ dự án thay đổi sẽ dẫn đến chi phí của dự án thay đổi theo, đa phần là thay đổi tiêu tực tức là tiến độ dự án chậm dẫn đến chi phi cho dự án càng tăng cao. Chính lý do đó mà giá trị thu đƣợc của dự án cũng không đạt đƣợc nhƣ mong muốn. Vì vậy, cấp thiết phải có một công cụ quản lý tiến độ, chi phí của dự án để đảm bảo giá trị thu đƣợc khi tiến hành đầu tƣ xây dựng các công trình. Có một Luận văn thạc sỹ HVTH: Hồ Xuân Dương CBHD: PGS.
Nguyễn Đình Thám Trang 7 phƣơng pháp quản lý dự án ƣu việt, có thể giải quyết đƣợc vấn đề quản lý tích hợp chi phí – tiến độ, có tầm nhìn xa về dự án và có thể nhận biết, cảnh báo sớm những vấn đề của dự án, đó là phƣơng pháp giá trị đạt đƣợc ( EVMS). Đây cũng là phƣơng pháp đã đƣợc nhiều quốc gia có nền xây dựng phát triển áp dụng để quản lý dự án, mang lại hiệu quả cao cho công tác quản lý dự án, có tính ứng dụng cao trong xây dựng. Xác định vấn đề nghiên cứu: Để nâng cao mức độ hiệu quả đầu tƣ cho các dự án xây dựng trong vùng và năng lực quản lý, thực hiện của nhà thầu, tránh tình trạng mất kiểm soát về tiến độ và chi phí của các dự án xây dựng đang xảy ra phổ biến hiện nay, cần nhìn nhận tình trạng quản lý chi phí và tiến độ của nhà thầu đang ở mức độ nào? Các thao tác quản lý dự án nào đang bị coi nhẹ hoặc bỏ qua? Hiệu quả quản lý của phƣơng pháp đang sử dụng ở mức độ nào? Để từ đó tìm ra nguyên nhân tình trạng quản lý dự án kém hiệu quả của nhà thầu và tìm cách khắc phục. Đồng thời cũng cần nhìn nhận sự thiếu một hệ thống quản lý tích hợp chi phí và tiến độ gây ra rất nhiều khó khăn cho việc đánh giá tình trạng dự án, từ đó xem xét một kỹ thuật quản lý tiến độ - chi phí rất mạnh mẽ hiện nay đó là kỹ thuật Earned value management để đo lƣờng sự thực hiện dự án (PMI, 2008).
Đây cũng là phƣơng pháp quản lý có thể áp dụng cho các loại dự án có kích cỡ khác nhau, ở cả nguồn vốn công và tƣ nhân (Kim et al, 2003). Phƣơng pháp quản lý giá trị đạt đƣợc (Earn value management) đã đƣợc áp dụng rộng rãi ở rất nhiều nƣớc có nền xây dựng phát triển trên thế giới, với nhiều lợi ích nhƣ : Có thể quản lý tích hợp chi phí và tiến trình thực hiện, có tầm nhìn xa về dự án và giúp cảnh báo sớm các vấn đề, độ lệch xu hƣớng so với kế hoạch…(Kim et al, 2003). Đây chính là phƣơng pháp mà hệ thống quản lý dự án của khu vực Tây Nguyên đang thiếu và đang cần, vì vậy việc trả lời câu hỏi làm thế nào để áp dụng phƣơng pháp quản lý dự án ƣu việt này cho các dự án xây dựng tại Tây Nguyên là điều cấp bách cần làm. Mục tiêu nghiên cứu: - Khảo sát và phân tích tình trạng kiểm soát tiến độ - chi phí của nhà thầu Luận văn thạc sỹ HVTH: Hồ Xuân Dương CBHD: PGS.
Nguyễn Đình Thám Trang 8 trong các dự án xây dựng tại khu vực Tây Nguyên. - Đề xuất một hệ tiêu chuẩn EVMS đã đƣợc sửa đổi để áp dụng phù hợp cho điều kiện xây dựng tại khu vực. Phạm vi nghiên cứu: - Không gian nghiên cứu: Khảo sát lấy ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực xây dựng tại các tỉnh Tây Nguyên. - Thời gian nghiên cứu: Khoảng 09 tháng, từ tháng 04/2015 đến tháng 12/2015.
- Đối tƣợng khảo sát: Các thành viên trong bộ máy tổ chức của các nhà thầu xây dựng. Phƣơng pháp nghiên cứu: Nội dung đề tài nghiên cứu, tìm hiểu bằng con đƣờng chính là lý thuyết; sau đó thống kê số liệu thực tế các dự án tại Tây Nguyên và thiết kế bảng câu hỏi khảo sát để lấy ý kiến thực tế về việc áp dụng đề tài. - Về mặt lý thuyết: Luận văn nghiên cứu các tài liệu lý thuyết về lĩnh vực này đã đƣợc xuất bản kết hợp với các văn bản pháp lý về quản lý trong Ngành xây dựng hiện hành. - Về mặt thực tiễn: Từ cơ sở một số quy trình đã đƣợc áp dụng và khảo sát ý kiến chuyên gia, luận văn sẽ phân tích sau đó kiến nghị áp dụng đề tài một cách hoàn thiện.
Đóng góp dự kiến của nghiên cứu: - Về mặt thực tiễn: Xác định tình trạng kiểm soát tiến độ - chi phí của nhà thầu trong các dự án xây dựng tại khu vực Tây Nguyên, từ đó đánh giá đƣợc mức độ hiệu quả của phƣơng pháp quản lý hiện tại và tìm ra những thao tác quản lý dự án nào đang bị xem nhẹ hoặc bỏ qua, gây suy giảm hiệu quả quản lý dự án. Xây dựng hệ tiêu chuẩn quản lý giá trị đạt đƣợc EVMS áp dụng cho các nhà thầu xây dựng. - Về mặt học thuật: Đề tài trình bày chi tiết về hệ thống quản lý giá trị đạt đƣợc EVMS, những lợi ích và hạn chế của hệ thống. Đề tài cũng tìm hiểu và phân tích hệ tiêu chuẩn quản lý giá trị đạt đƣợc của Hoa Kỳ (ANSI/EIA – Luận văn thạc sỹ HVTH: Hồ Xuân Dương CBHD: PGS.
Nguyễn Đình Thám Trang 9 748) và thực hiện cuộc nghiên cứu khảo sát, phân tích số liệu thống kê để hiệu chỉnh bộ tiêu chuẩn này áp dụng cho 5 tỉnh Tây Nguyên. Phƣơng pháp và kết quả của cuộc nghiên cứu cũng có thể dùng làm tài liệu để phục vụ học tập, và giúp ích cho các nghiên cứu có liên quan tiếp theo. Luận văn thạc sỹ HVTH: Hồ Xuân Dương CBHD: PGS. Nguyễn Đình Thám Trang 10 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN VÀ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TIẾN ĐỘ - CHI PHÍ DỰ ÁN TẠI TÂY NGUYÊN 1.
QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG: 1. Quản lý dự án(QLDA): QLDA là sự áp dụng các hiểu biết, khả năng, công cụ và kỹ thuật vào một tổ hợp rộng lớn các hoạt động nhằm đáp ứng yêu cầu của một dự án cụ thể. Với riêng nghành xây dựng thì QLDA là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, thực hiện và kiểm soát các nguồn nhân lực, vật lực của nhà thầu trong tiến độ thời gian nhất định để hoàn thành dự án và đảm bảo giá trị thu đƣợc của dự án là lớn nhất. Nhiệm vụ chính của QLDA: Trong những điều kiện bị ràng buộc, làm thế nào để điều hành một tổ hợp các công việc phức tạp, biến động trong một không gian, thời gian cụ thể, nhằm đạt đƣợc mục tiêu là tạo ra các công trình xây dựng nhƣ mong muốn.
Trịnh Quốc Thắng) 1.