Tổng quan nghiên cứu

Nhu cầu tiêu thụ gạch xây dựng tại Việt Nam đạt mức 20 đến 22 tỷ viên mỗi năm và dự báo vượt mốc 40 tỷ viên. Nếu tiếp tục duy trì phương thức sản xuất gạch đất sét nung truyền thống, toàn ngành sẽ tiêu tốn khoảng 600 triệu m³ đất sét, tương đương 30.000 ha đất canh tác nông nghiệp màu mỡ. Đồng thời, quá trình nung đốt tiêu thụ hàng triệu tấn than đá, thải lượng lớn khí CO2 và bụi độc hại, gây ô nhiễm nghiêm trọng tại nhiều làng nghề như xã Nhơn Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Song song đó, nhu cầu cát xây dựng tăng từ 92 triệu m³ năm 2015 lên hơn 130 triệu m³, dẫn đến tình trạng khai thác cát quá mức gây sạt lở bờ sông nghiêm trọng, điển hình là sự cố sạt lở sông Vàm Nao năm 2017 làm sụp đổ 16 căn nhà.

Trước thực trạng cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, đề tài tập trung nghiên cứu giải pháp chế tạo gạch không nung sử dụng chất kết dính geopolymer hoạt hóa kiềm từ tro bay và cốt liệu đá mi thay thế cát sông. Mục tiêu cốt lõi là xác định tỷ lệ cấp phối tối ưu, đánh giá các chỉ tiêu cơ học gồm cường độ chịu nén và cường độ kéo khi uốn theo tiêu chuẩn xây dựng hiện hành. Nghiên cứu được thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 5 năm 2018. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa kinh tế và môi trường to lớn khi tạo ra sản phẩm gạch không nung đạt cường độ chịu nén 24,06 MPa, cao hơn 140% so với gạch không nung thông thường đạt 10 MPa, mở ra giải pháp thay thế hoàn toàn xi măng poóc-lăng và giảm 75% lượng cát tự nhiên tiêu thụ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng thuyết tổng hợp chất kết dính Geopolymer vô cơ do Joseph Davidovits khởi xướng từ năm 1979. Bản chất của quá trình này là phản ứng kiềm hóa giữa dung dịch hoạt hóa alkaline và nguồn nguyên liệu giàu khoáng chất Silic (SiO2) cùng Nhôm (Al2O3). Phản ứng tạo nên mạng lưới liên kết chuỗi vô định hình Poly-sialate bền vững theo công thức phân tử Mn[-(SiO2)z-AlO2]n.wH2O, đóng rắn nhanh và chịu nhiệt độ lên đến 1.000°C.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng thuyết cấp phối cốt liệu gián đoạn và cấu trúc tiếp xúc chèn chặt. Việc kết hợp đá mi có bề mặt nhám, sắc cạnh với cát sông theo tiêu chuẩn TCVN 7570:2006 giúp tăng cường góc ma sát trong và tăng khả năng bám dính liên diện giữa cốt liệu với màng gel geopolymer. Các khái niệm trung tâm bao gồm: tro bay Formosa loại F có độ lọt sàng 0,05 mm đạt 93,5% và chỉ số hoạt tính cường độ 28 ngày đạt 90,7%; cốt liệu đá mi cỡ hạt 5 đến 10 mm với khối lượng thể tích 1.480 kg/m³; dung dịch hoạt hóa kiềm kết hợp giữa Natri Hydroxit (NaOH) nồng độ 10 đến 14 mol/l với Natri Silicat (Na2SiO3); chế độ dưỡng hộ nhiệt ở nhiệt độ 100°C.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thực nghiệm được thu thập từ tro bay của nhà máy nhiệt điện Formosa có tổng hàm lượng oxit Silic, Nhôm và Sắt vượt 70%, dung dịch NaOH có độ sạch 98% cùng khối lượng riêng 2.130 kg/m³, thủy tinh lỏng Na2SiO3 và đá mi sàng lọc từ mỏ đá tự nhiên có khối lượng riêng 2.700 kg/m³.

Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 54 tổ mẫu thử nghiệm, bao gồm các mẫu hình trụ kích thước 100x200 mm và mẫu viên gạch tiêu chuẩn kích thước 50x100x200 mm. Phương pháp chọn mẫu là lấy mẫu phân tầng ngẫu nhiên thực nghiệm theo ma trận cấp phối: 3 tỷ lệ dung dịch Na2SiO3/NaOH (1,5; 2,0; 2,5), 5 tỷ lệ đá mi thay thế cát (0%, 25%, 50%, 75%, 100%) và 3 mốc thời gian dưỡng hộ nhiệt (6 giờ, 8 giờ, 10 giờ). Phương pháp phân tích cơ học phá hủy tĩnh trên máy nén thủy lực và máy thử uốn bê tông được lựa chọn theo tiêu chuẩn ASTM C311 và TCVN 6016:2011. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm đo đạc chính xác các chỉ số cơ lý giới hạn, triệt tiêu sai số hình học và phản ánh trung thực khả năng chịu lực thực tế của vật liệu mới trong kết cấu công trình. Quá trình thực nghiệm diễn ra liên tục từ cuối năm 2017 đến tháng 5 năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình thực nghiệm đã ghi nhận các kết quả cơ học nổi bật sau:

Thứ nhất, tỷ lệ dung dịch hoạt hóa kiềm trên tro bay bằng 0,6 cùng tỷ lệ Na2SiO3/NaOH bằng 2,0 cho hiệu quả liên kết cao nhất. Khi tăng tỷ lệ Na2SiO3/NaOH từ 1,5 lên 2,0, cường độ nén của mẫu cấp phối tăng từ 19,85 MPa lên 24,20 MPa, tương đương mức tăng trưởng 21,9%.

Thứ hai, tỷ lệ phối trộn cốt liệu 75% đá mi và 25% cát tạo nên độ chèn chặt tối ưu. Cấp phối này giúp cường độ chịu nén đạt đỉnh 24,20 MPa, vượt trội 42,3% so với mẫu đối chứng sử dụng 100% cát vàng thông thường chỉ đạt 17,01 MPa.

Thứ ba, thời gian dưỡng hộ nhiệt 10 giờ ở nhiệt độ 100°C giúp hoàn thiện mạng lưới geopolymer hóa. Cường độ kéo khi uốn của mẫu cấp phối đạt 7,66 MPa, tăng 32,5% so với mức 5,78 MPa khi dưỡng hộ nhiệt trong 6 giờ.

Thứ tư, viên gạch không nung thành phẩm chế tạo từ cấp phối tối ưu đạt cường độ chịu nén 24,06 MPa và cường độ kéo khi uốn đạt 7,51 MPa. So với mức cường độ trung bình 10 MPa của các loại gạch block xi măng cốt liệu đang lưu hành trên thị trường, sản phẩm gạch geopolymer đá mi có cường độ nén cao gấp 2,4 lần, tương đương mức tăng hơn 140%.

Thảo luận kết quả

Sự gia tăng vượt bậc về cường độ chịu lực bắt nguồn từ cơ chế tương tác vi mô giữa dung dịch kiềm và tro bay. Dung dịch NaOH hòa tan nhanh các hạt aluminosilicate, kết hợp với các ion silicat hòa tan trong Na2SiO3 để thúc đẩy quá trình ngưng tụ gel Poly-sialate. Gel này lấp đầy các vi lỗ rỗng và bao bọc chặt chẽ bề mặt nhám, sắc cạnh của các hạt đá mi có khối lượng riêng 2.700 kg/m³, tạo nên liên kết liên diện có độ bám dính vượt trội so với bề mặt trơn nhẵn của cát sông.

So sánh với công trình nghiên cứu gạch geopolymer từ bùn đỏ và tro bay của Nguyễn Văn Dũng năm 2012 chỉ đạt cường độ nén từ 7,7 đến 18,7 MPa (tương ứng mác M75 đến M150 theo TCVN 1451-1988), gạch không nung sử dụng đá mi và tro bay Formosa trong nghiên cứu này đạt mác chịu lực tương đương M200 đến M250.

Dữ liệu thực nghiệm được hệ thống hóa trực quan qua biểu đồ đường biểu diễn tương quan giữa thời gian dưỡng hộ nhiệt (6 giờ, 8 giờ, 10 giờ) và cường độ chịu nén, kết hợp bảng ma trận phân tích ảnh hưởng của tỷ lệ dung dịch Na2SiO3/NaOH. Các đồ thị chỉ ra xu hướng rõ rệt: cường độ tăng mạnh từ 0% đến 75% hàm lượng đá mi, sau đó suy giảm nhẹ khi nâng tỷ lệ đá mi lên 100% do thiếu hụt thành phần hạt mịn để chèn kín thể tích rỗng.

Đề xuất và khuyến nghị

Để nhanh chóng thương mại hóa và ứng dụng rộng rãi sản phẩm gạch không nung geopolymer đá mi, các giải pháp cụ thể được đề xuất như sau:

Một là, chuẩn hóa quy trình sản xuất cấp phối tại các cơ sở chế tạo vật liệu xây dựng. Cần cố định tỷ lệ dung dịch hoạt hóa kiềm trên tro bay ở mức 0,6, tỷ lệ Na2SiO3/NaOH ở mức 2:1 và tỷ lệ cốt liệu 75% đá mi kết hợp 25% cát để duy trì cường độ chịu nén trên 24 MPa. Các doanh nghiệp sản xuất gạch không nung chủ trì tiếp nhận chuyển giao công nghệ trong giai đoạn 2026 đến 2027.

Hai là, đầu tư hệ thống buồng dưỡng hộ nhiệt hơi nước liên tục duy trì nhiệt độ 100°C trong 10 giờ. Cần ứng dụng công nghệ thu hồi nhiệt thải từ các nhà máy công nghiệp lân cận nhằm giảm 25% chi phí năng lượng gia nhiệt. Đơn vị cơ khí chế tạo và tự động hóa công nghiệp chịu trách nhiệm thiết kế, hoàn thiện hệ thống trước năm 2028.

Ba là, xây dựng và ban hành tiêu chuẩn kỹ thuật cấp quốc gia dành riêng cho vật liệu gạch geopolymer không nung sử dụng phụ phẩm công nghiệp. Mục tiêu đặt ra là đưa sản phẩm vào danh mục vật liệu xây dựng bắt buộc cho các công trình vốn ngân sách, hướng đến thay thế 35% lượng gạch nung tại khu vực phía Nam vào năm 2030 dưới sự chủ trì của Bộ Xây dựng.

Bốn là, thiết lập chuỗi cung ứng vật liệu liên vùng nhằm thu hồi 300.000 tấn tro bay Formosa mỗi năm và tận dụng 600.000 tấn đá mi nghiền từ các mỏ đá Đông Nam Bộ. Hiệp hội Bê tông Việt Nam điều phối chuỗi cung ứng nhằm kéo giảm giá thành sản xuất viên gạch xuống dưới 1.500 VNĐ, tăng sức cạnh tranh trực tiếp với gạch đất nung truyền thống.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn cung cấp nguồn tài liệu học thuật và thực tiễn giá trị cho bốn nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng không nung. Tài liệu cung cấp chính xác bảng thành phần cấp phối tối ưu, thông số pha chế dung dịch kiềm và quy trình dưỡng hộ nhiệt, giúp doanh nghiệp nâng mác gạch lên 24 MPa và cắt giảm 100% chi phí xi măng.

Thứ hai, kỹ sư thiết kế kết cấu và nhà thầu thi công xây dựng. Luận văn cung cấp số liệu cơ học tin cậy về cường độ chịu nén 24,06 MPa và cường độ uốn 7,51 MPa, làm cơ sở tính toán tải trọng cho các công trình tường chịu lực cao tầng, kè chắn ven sông chống xói lở hoặc lát vỉa hè chịu tải trọng lớn.

Thứ ba, giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Kỹ thuật Xây dựng Công trình. Đề tài đóng vai trò như tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình thí nghiệm vật liệu mới, cơ chế geopolymer hóa và phương pháp xử lý số liệu thực nghiệm.

Thứ tư, cán bộ quản lý tại các cơ quan tài nguyên môi trường và quản lý đô thị. Công trình cung cấp luận cứ khoa học vững chắc phục vụ việc ban hành chính sách kinh tế tuần hoàn, quản lý bãi thải tro xỉ nhiệt điện và giải quyết bài toán thiếu hụt cát xây dựng.

Câu hỏi thường gặp

Gạch không nung geopolymer đá mi có độ bền cơ học vượt trội như thế nào so với gạch block thông thường? Sản phẩm đạt cường độ chịu nén 24,06 MPa và cường độ chịu uốn 7,51 MPa sau 10 giờ dưỡng hộ nhiệt ở 100°C. Chỉ số này cao gấp 2,4 lần so với các loại gạch block xi măng cốt liệu trên thị trường hiện nay có cường độ nén trung bình khoảng 10 MPa.

Tại sao tỷ lệ phối trộn 75% đá mi và 25% cát lại mang lại cường độ cao nhất? Tỷ lệ 75% đá mi (kích thước 5 đến 10 mm) kết hợp 25% cát thô (kích thước 2,0 đến 3,3 mm) tạo nên đường cong cấp phối liên tục đặc chắc nhất. Các hạt cát lấp đầy khoảng rỗng giữa các góc cạnh đá mi, giúp gel geopolymer phân bổ đồng đều và tối đa hóa ma sát trong của khối vật liệu.

Vai trò của chế độ dưỡng hộ nhiệt 100°C trong 10 giờ liên tục là gì? Nhiệt độ 100°C kích thích phản ứng hòa tan Silic và Nhôm trong tro bay diễn ra triệt để, gia tăng tốc độ hình thành khung mạng Poly-sialate. Thời gian dưỡng hộ 10 giờ giúp phản ứng đóng rắn hoàn tất, nâng cường độ nén của mẫu lên 24,20 MPa, tăng hơn 20% so với dưỡng hộ 6 giờ.

Nghiên cứu mang lại những lợi ích bảo vệ môi trường nổi bật nào? Đề tài loại bỏ hoàn toàn việc sử dụng xi măng poóc-lăng, giảm thiểu hàng triệu tấn khí thải CO2 gây hiệu ứng nhà kính. Đồng thời, việc thay thế 75% cát bằng đá mi và tái chế tro bay Formosa giúp bảo tồn tài nguyên cát sông, giảm thiểu nguy cơ sạt lở bờ sông tại Đồng bằng sông Cửu Long.

Gạch geopolymer đá mi có thể ứng dụng vào những hạng mục công trình nào? Nhờ cường độ chịu nén đạt mác M200 đến M250 và khả năng chịu nhiệt, bền hóa học tốt, gạch phù hợp để xây dựng tường chịu lực cho nhà cao tầng, công trình công nghiệp, kè bảo vệ bờ sông biển và sản xuất gạch lát vỉa hè chịu tải trọng nặng.

Kết luận

Nghiên cứu đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu đề ra thông qua các kết luận then chốt:

  • Xác lập công thức cấp phối tối ưu sử dụng tỷ lệ hoạt hóa kiềm trên tro bay 0,6 và tỷ lệ dung dịch Na2SiO3/NaOH là 2:1.
  • Khẳng định tỷ lệ cốt liệu 75% đá mi kết hợp 25% cát đạt độ đặc chắc và khả năng chịu lực cao nhất.
  • Xác định chế độ dưỡng hộ nhiệt 100°C trong 10 giờ liên tục giúp viên gạch đạt cường độ nén 24,06 MPa và cường độ uốn 7,51 MPa.
  • Giải quyết đồng thời bài toán tiêu thụ tro bay công nghiệp và đá mạt phế thải, giảm thiểu 75% nhu cầu sử dụng cát tự nhiên.
  • Tạo ra dòng sản phẩm vật liệu xây không nung thân thiện với môi trường, không phát thải khí nhà kính và đáp ứng tiêu chuẩn mác cao.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp giải pháp công nghệ vật liệu xanh hoàn chỉnh, vừa nâng cao tính năng kỹ thuật của gạch xây dựng vừa bảo vệ tài nguyên sinh thái. Trong 12 tháng tới, nhóm nghiên cứu sẽ tiến hành thử nghiệm dây chuyền pilot với quy mô 50.000 viên và hoàn tất chứng nhận hợp chuẩn quốc gia. Các chủ đầu tư và nhà thầu xây dựng hãy tích cực đưa gạch geopolymer đá mi vào dự án để cùng chung tay kiến tạo các công trình bền vững cho tương lai.