phần mở đầu , kết luận , phần phụ lục , và tài liệu tham khảo , 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com luận văn đƣơ ̣c trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài Chƣơng 2: Hệ thống bài tập gắn với thực tiễn phần Hóa học hữu cơ 12 ở trƣờng THPT Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử của vấn đề nghiên cứu Trong quá trình dạy và học môn hóa học, nếu giáo viên chỉ ra đƣợc sự gần gũi giữa môn học với thực tế cho học sinh thấy thì các em sẽ yêu thích môn hóa học hơn. Bộ Sách giáo khoa mới hiện nay có rất nhiều các tƣ liệu kèm theo các hình ảnh sống động phần nào đó đáp ứng đƣợc yêu cầu đổi mới trong dạy học. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân nên việc gắn bài học với các nội dung có liên quan đến thực tiễn còn rất hạn chế.
Nhiều bài tập hóa học còn xa rời thực tiễn cuộc sống và sản xuất, quá chú trọng đến các tính toán phức tạp. Để phần nào đáp ứng nhu cầu đổi mới nội dung, phƣơng pháp giảng dạy và học tập môn hóa học phổ thông theo hƣớng gắn bó với thực tiễn, đã có một số sách tham khảo đã đƣợc xuất bản. Bên cạnh đó, một số học viên cao học cũng đã nghiên cứu và bảo vệ luận văn theo hƣớng đề tài này nhƣ: Đỗ Công Mỹ (2005), Xây dựng, lựa chọn hệ thống câu hỏi lý thuyết và bài tập thực tiễn môn hóa học Trung học phổ thông (phần hóa học đại cƣơng và vô cơ), Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, Đại học Sƣ phạm Hà Nội. Nguyễn Thị Thu Hằng (2007), Xây dựng, lựa chọn hệ thống bài tập hóa học thực tiễn Trung học phổ thông (phần hóa học hữu cơ), Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, Đại học Sƣ phạm Hà Nội.
Ngô Thị Kim Tuyến (2004), Xây dựng hệ thống bài tập thực tiễn hóa học lớp 11 Trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, Đại học Sƣ phạm Hà Nội. Trần Thị Phƣơng Thảo (2008), Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan về hóa học có nội dung gắn với thực tiễn, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, Đại học sƣ phạm TP. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngoài ra còn một số bài báo về dạng bài tập này đƣợc đăng trên tạp chí Hóa học & Ứng dụng Lƣơng Thiện Tài, Hoàng Anh Tài, Nguyễn Thị Hiển (2007), “Xây dựng bài tập hóa học thực tiễn trong dạy học phổ thông”, Tạp chí Hóa học và ứng dụng (số 64). Với mong muốn đóng góp thêm nhiều bài tập gắn với thực tiễn nên trong luận văn này chúng tôi sẽ tuyển chọn và xây dựng thêm một số bài tập dạng này, đồng thời đƣa các bài tập đó vào trong dạy học nhằm góp phần nâng cao chất lƣợng dạy và học hóa học.
Bài tập Hóa học 1. Khái niệm về bài tập hóa học Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông [40]: “Bài tập là bài ra cho HS làm để tập vận dụng những điều đã học”. BTHH là một vấn đề không lớn mà trong trƣờng hợp tổng quát đƣợc giải quyết nhờ những suy luận logic, những phép toán và những thí nghiệm trên cơ sở các khái niệm, định luật, học thuyết và phƣơng pháp hóa học. BTHH là phƣơng tiện chính và hết sức quan trọng dùng để rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức cho HS.
Là nhiệm vụ học tập mà GV đặt ra cho ngƣời học, buộc ngƣời học vận dụng các kiến thức, năng lực của mình để giải quyết các nhiệm vụ đó nhằm chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng một cách tích cực, hứng thú và sáng tạo. BTHH là một dạng bài làm gồm những bài toán, những câu hỏi hay đồng thời cả bài toán và câu hỏi thuộc về hóa học mà trong khi hoàn thành chúng, HS nắm đƣợc một tri thức hay kĩ năng nhất định. Ý nghĩa của bài tập Hóa học 1. Ý nghĩa trí dục - Làm chính xác hoá các khái niệm hoá học.
Củng cố, đào sâu và mở rộng kiến thức một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn. Chỉ khi vận dụng 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đƣợc kiến thức vào giải bài tập thì học sinh mới thực sự nắm đƣợc kiến thức một cách sâu sắc. - Ôn tập, hệ thống hoá kiến thức một cách tích cực nhất. Khi ôn tập học sinh dễ rơi vào tình trạng buồn chán nếu chỉ yêu cầu họ nhắc lại kiến thức.
Thực tế cho thấy học sinh rất thích giải bài tập trong các tiết ôn tập. - Rèn luyện kỹ năng hoá học nhƣ cân bằng phƣơng trình hóa học của phản ứng, tính toán theo công thức hoá học và phƣơng trình hoá học… nếu là bài tập thực nghiệm sẽ rèn các kỹ năng thực hành, góp phần vào việc giáo dục kỹ thuật tổng hợp cho học sinh. - Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống lao động sản xuất bảo vệ môi trƣờng. - Rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ hoá học và các thao tác tƣ duy.
Bài tập hoá học là một phƣơng tiện có tầm quan trọng đặc biệt trong việc phát triển tƣ duy hoá học của học sinh, bồi dƣỡng cho học sinh phƣơng pháp nghiên cứu khoa học. Bởi vì giải bài tập hoá học là một hình thức làm việc tự lực căn bản của học sinh. Trong thực tiễn dạy học, tƣ duy hoá học đƣợc hiểu là kỹ năng quan sát hiện tƣợng hóa học, phân tích một hiện tƣợng phức tạp thành những bộ phận thành phần, xác lập mối liên hệ định lƣợng và định tính của các hiện tƣợng, đoán trƣớc hệ quả lý thuyết và áp dụng kiến thức của mình. Trƣớc khi giải bài tập học sinh phải phân tích điều kiện của đề tài, tự xây dựng các lập luận, thực hiện việc tính toán, khi cần thiết có thể tiến hành thí nghiệm, thực hiện phép đo… Trong những điều kiện đó, tƣ duy logic, tƣ duy sáng tạo của học sinh đƣợc phát triển, năng lực giải quyết vấn đề đƣợc nâng cao.
Ý nghĩa phát triển Phát triển ở học sinh năng lực tƣ duy logic, biện chứng khái quát, độc lập thông minh và sáng tạo. Cao hơn mức rèn luyện thông thƣờng, học sinh phải biết vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo để giải quyết bài tập 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong những tình huống mới, hoàn cảnh mới, biết đề xuất đánh giá theo ý kiến riêng bản thân, biết đề xuất các giải pháp khác nhau khi phải xử lý một tình huống… thông qua đó, bài tập hoá học giúp phát hiện năng lực sáng tạo của học sinh để đánh giá, đồng thời phát huy đƣợc năng lực sáng tạo cho bản thân. Ý nghĩa giáo dục Bài tập hoá học còn có tác dụng giáo dục cho học sinh phẩm chất tƣ tƣởng đạo đức. Qua các bài tập về lịch sử, có thể cho học sinh thấy quá trình phát sinh những tƣ tƣởng về quan điểm khoa học tiến bộ, những phát minh to lớn, có giá trị của các nhà khoa học tiến bộ trên thế giới.
Thông qua việc giải các bài tập, còn rèn luyện cho học sinh phẩm chất độc lập suy nghĩ, tính kiên trì dũng cảm khắc phục khó khăn, tính chính xác khoa học, kích thích hứng thú bộ môn hoá học nói riêng và học tập nói chung.Phân loại bài tập hóa học Có nhiều cách phân loại bài tập hóa học, tuy nhiên, căn cứ vào hình thức ngƣời ta có thể chia bài tập hoá học thành hai nhóm lớn: bài tập tự luận (trắc nghiệm tự luận) và bài tập trắc nghiệm (trắc nghiệm khách quan). * Bài tập tự luận: Khi làm bài, HS phải viết/trình bày câu trả lời, phải lý giải, lập luận, phải chứng minh bằng ngôn ngữ của mình. Trong bài tập tự luận, lại chia ra: bài tập định tính, bài tập định lƣợng, bài tập có sử dụng hình vẽ, bài tập thực tế. dựa vào tính chất, nội dung bài tập.
Gần đây, việc kiểm tra đánh giá HS đã chuyển dần sang trắc nghiệm nhƣng bài tập tự luận vẫn đang đƣợc phát triển và sử dụng khá rộng rãi do những ƣu điểm của nó nhƣ: đo đƣợc khả năng độc lập suy nghĩ, phát huy đƣợc tính sáng tạo của HS. Và để tăng cƣờng hứng thú học tập, nghiên cứu hoá học cho HS, bài tập thực tế, bài tập có sử dụng hình vẽ hiện nay cũng đƣợc chú trọng xây dựng. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com * Bài tập trắc nghiệm: Khi làm bài, HS chỉ phải đọc, suy nghĩ để lựa chọn đáp án đúng trong số các phƣơng án đã cho. Thời gian giành cho mỗi câu từ 1 - 2 phút.
Bài tập trắc nghiệm đƣợc chia thành 4 dạng chính: dạng điền khuyết, dạng ghép đôi, dạng đúng sai, dạng nhiều lựa chọn. Hiện nay, bài tập trắc nghiệm dạng nhiều lựa chọn là loại bài tập thông dụng nhất do những ƣu điểm của nó nhƣ: có độ tin cậy cao, tính giá trị tốt hơn (đo đƣợc khả năng nhớ, áp dụng các nguyên lý, định luật, tổng quát hoá.), thật sự khách quan khi chấm bài (điểm số của bài trắc nghiệm khách quan không phụ thuộc vào chữ viết, khả năng diễn đạt của HS và vào trình độ ngƣời chấm bài). Trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan 1. Trắc nghiệm tự luận TNTL đòi hỏi HS phải nhớ lại kiến thức, phải biết sắp xếp và diễn đạt ý kiến của mình một cách chính xác rõ ràng.
Bài TNTL trong một chừng mực nào đó đƣợc chấm điểm một cách chủ quan, điểm bởi những ngƣời chấm khác nhau có thể không thống nhất. Một bài tự luận thƣờng có ít câu hỏi vì phải mất nhiều thời gian để viết câu trả lời. Khi viết câu hỏi tự luận, GV cần phải diễn đạt câu hỏi một cách rõ nghĩa, đầy đủ, cần làm rõ những yêu cầu trong câu trả lời cả về độ dài của nó, việc chấm bài tốn thời gian. Các dạng câu hỏi TNTL a) Câu hỏi tự luận có sự trả lời mở rộng: loại câu này có phạm vi tƣơng đối rộng và khái quát, HS đƣợc tự do diễn đạt tƣ tƣởng và kiến thức trong câu trả lời nên có thể phát huy óc sáng tạo và suy luận.
Loại câu trả lời này đƣợc gọi là tiểu luận. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com b) Câu tự luận với sự trả lời có giới hạn: Loại này thƣờng có nhiều câu hỏi với nội dung tƣơng đối hẹp. Mỗi câu trả lời là một đoạn ngắn nên việc chấm điểm dễ hơn. Có 3 loại câu trả lời có giới hạn: Loại câu điền thêm và trả lời đơn giản.