Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Chương 2: Đề xuất hệ thống bài tập phát triển năng lực văn học cho HS lớp 12 qua dạy học truyện ngắn của Việt Nam giai đoạn 1945- 1975 Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Năng lực văn học 1. Quan niệm về năng lực văn học a) Khái niệm “năng lực” Năng lực là một khái niệm có nguồn gốc từ tiếng Latin đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới. Có nhiều quan niệm khác nhau về năng lực: Theo Từ điển tiếng Việt, NL có nghĩa là: a) Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; b) Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao.660-661] Theo “Chƣơng trình giáo dục phổ thông – Chƣơng trình tổng thể” thì năng lực là “thuộc tính cá nhân đƣợc hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con ngƣời huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác nhƣ hứng thú, niềm tin, ý chí,.
thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”.37] Mặc dù có những điểm khác nhau nhƣng các ý kiến trên đều thống nhất ở điểm cốt l i về “Năng lực”: đó là khả năng vận dụng tổng hòa kiến thức, kĩ năng, thái độ và giá trị để giải quyết những tình huống, những vấn đề trong cuộc sống. Hành động (làm) và thực hiện ở đây phải gắn với thái độ; phải có kiến thức và kĩ năng, chứ không phải là một cách làm máy móc. b) Năng lực văn học Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn hiện hành (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2006) chƣa phải là chƣơng trình đƣợc xây dựng theo định hƣớng phát triển năng lực học sinh, vì thế chƣơng trình không xác định và mô tả các năng lực của học sinh, trong đó có năng lực văn học. Tuy nhiên, để đổi mới PPDH 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com môn Ngữ văn theo định hƣớng phát triển năng lực, trong đó có năng lực văn học, cần phải hiểu r về năng lực này.
Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018) xác định mục tiêu chung “Góp phần giúp học sinh phát triển các năng lực chung: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Đặc biệt, môn Ngữ văn giúp học sinh phát triển năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học: rèn luyện các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe; có hệ thống kiến thức phổ thông nền tảng về tiếng Việt và văn học, phát triển tƣ duy hình tƣợng và tƣ duy logic, góp phần hình thành học vấn căn bản của một ngƣời có văn hoá; biết tạo lập các văn bản thông dụng; biết tiếp nhận, đánh giá các văn bản văn học nói riêng, các sản phẩm giao tiếp và các giá trị thẩm mĩ nói chung trong cuộc sống”.5] Nhƣ vậy, có thể thấy, CT Ngữ văn mới (2018) nhấn mạnh vào việc hình thành và phát triển hai năng lực chuyên biệt, đó là “năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học”, năng lực ngôn ngữ gồm đọc, viết, nói và nghe. “Chƣơng trình lấy việc rèn luyện các kĩ năng giao tiếp (đọc, viết, nói và nghe) làm trục chính xuyên suốt cả ba cấp học nhằm đáp ứng yêu cầu của chƣơng trình theo định hƣớng năng lực và bảo đảm tính chỉnh thể, sự nhất quán liên tục trong tất cả các cấp học, lớp học. Các kiến thức phổ thông cơ bản, nền tảng về tiếng Việt và văn học đƣợc hình thành qua hoạt động dạy học tiếp nhận và tạo lập văn bản; phục vụ trực tiếp cho yêu cầu rèn luyện các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe”.4] Điều đó có nghĩa là, không có con đƣờng riêng để hình thành năng lực văn học cho HS mà năng lực đó đƣợc hình thành và phát triển qua các hoạt động đọc, viết, nói và nghe.
Theo CT Ngữ văn (2018), năng lực văn học “một biểu hiện của năng lực thẩm mĩ, là khả năng nhận biết, phân tích, tái hiện và sáng tạo các yếu tố thẩm mĩ thông qua hoạt động tiếp nhận và tạo lập văn bản văn học”.87] Nhƣ vậy, năng lực văn học bao gồm hai phƣơng diện/thành tố: tiếp nhận và tạo lập văn bản văn học theo đặc trƣng của từng thể loại (với các yếu tố thẩm mĩ 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tuy nhiên, với học sinh phổ thông đại trà, chƣơng trình nghiêng về yêu cầu HS tiếp nhận văn học hơn là tạo lập văn bản văn học. Trong luận văn này, chúng tôi coi quan niệm về năng lực văn học trên đây của CT Ngữ văn (2018) là căn cứ để triển khai nội dung nghiên cứu của mình. Đồng thời, luận văn của chúng tôi tập trung đi sâu vào vấn đề phát triển năng lực tiếp nhận văn học cho HS (qua trƣờng hợp dạy học truyện ngắn của Việt Nam giai đoạn 1945-1975 ở lớp 12).
c) Biểu hiện của năng lực văn học của học sinh lớp 12 Với học sinh cấp trung học phổ thông (trong đó có học sinh lớp 12), CT đƣa ra yêu cầu về năng lực văn học nhƣ sau: “Phân tích và đánh giá văn bản văn học dựa trên những hiểu biết về phong cách nghệ thuật và lịch sử văn học. Nhận biết đƣợc đặc trƣng của hình tƣợng văn học và một số điểm khác biệt giữa hình tƣợng văn học với các loại hình tƣợng nghệ thuật khác (hội hoạ, âm nhạc, kiến trúc, điêu khắc); phân tích và đánh giá đƣợc nội dung tƣ tƣởng và cách thể hiện nội dung tƣ tƣởng trong một văn bản văn học; nhận biết và phân tích đƣợc đặc điểm của ngôn ngữ văn học, câu chuyện, cốt truyện và cách kể chuyện; nhận biết và phân tích đƣợc một số đặc điểm phong cách nghệ thuật trong văn học dân gian, trung đại và hiện đại; phong cách nghệ thuật của một số tác giả, tác phẩm lớn. Nêu đƣợc những nét tổng quát về lịch sử văn học dân tộc (quá trình phát triển, các đề tài và chủ đề lớn, các tác giả, tác phẩm lớn; một số giá trị nội dung và hình thức của văn học dân tộc) và vận dụng vào việc đọc tác phẩm văn học. Tạo lập đƣợc một số kiểu văn bản văn học thể hiện khả năng biểu đạt cảm xúc và ý tƣởng bằng hình thức ngôn từ mang tính thẩm mĩ”.11] Nhƣ đã nói ở trên, năng lực văn học không có con đƣờng riêng để hình thành mà phải qua các hoạt động đọc, viết, nói và nghe – biểu hiện của năng lực ngôn ngữ.
Vì thế, rất cần phải quan tâm đến biểu hiện của năng lực ngôn ngữ của HS lớp 12 để nắm đƣợc cách thức phát triển năng lực văn học cho HS. Yêu cầu về năng lực ngôn ngữ của học sinh lớp 12 đƣợc CT Ngữ văn (2018) quy định nhƣ sau: 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Biết vận dụng kiến thức tiếng Việt và kiến thức về bối cảnh lịch sử, xã hội, tƣ tƣởng, triết học và quan niệm thẩm mĩ của các thời kì để hiểu các văn bản khó hơn (thể hiện qua dung lƣợng, độ phức tạp và yêu cầu đọc hiểu). Biết phân tích, đánh giá nội dung và đặc điểm nổi bật về hình thức biểu đạt của văn bản, nhất là những tìm tòi sáng tạo về ngôn ngữ, cách viết và kiểu văn bản. Học sinh có cách nhìn, cách nghĩ về con ngƣời và cuộc sống theo cảm quan riêng; thấy đƣợc vai trò và tác dụng của việc đọc đối với bản thân.
Từ lớp 10 đến lớp 12: viết thành thạo kiểu văn bản nghị luận và thuyết minh về các đề tài gắn với đời sống và định hƣớng nghề nghiệp; viết đúng quy trình, có kết hợp các phƣơng thức biểu đạt, kiểu lập luận và yếu tố nghệ thuật; có chủ kiến về một vấn đề xã hội. Viết đƣợc văn bản nghị luận và văn bản thông tin có đề tài tƣơng đối phức tạp; văn bản nghị luận yêu cầu phân tích, đánh giá, so sánh giá trị của tác phẩm văn học; bàn về những vấn đề phù hợp với đối tƣợng gần đến tuổi thành niên, đòi hỏi cấu trúc và kiểu lập luận tƣơng đối phức tạp, bằng chứng cần phải tìm kiếm từ nhiều nguồn; văn bản thuyết minh viết về những vấn đề có tính khoa học dƣới hình thức một báo cáo nghiên cứu đúng quy ƣớc; tuân thủ quyền sở hữu trí tuệ và tránh đạo văn. Bài viết thể hiện đƣợc cảm xúc, thái độ, những trải nghiệm và ý tƣởng của cá nhân đối với những vấn đề đặt ra trong văn bản; thể hiện đƣợc một cách nhìn, cách nghĩ, cách sống mang đậm cá tính. Biết tranh luận về những vấn đề tồn tại các quan điểm trái ngƣợc nhau; có thái độ cầu thị và văn hoá tranh luận phù hợp; có khả năng nghe thuyết trình và đánh giá đƣợc nội dung và hình thức biểu đạt của bài thuyết trình; có hứng thú thể hiện chủ kiến, cá tính trong tranh luận; trình bày vấn đề khoa học một cách tự tin, có sức thuyết phục.
Nói và nghe linh hoạt; nắm đƣợc phƣơng pháp, quy trình tiến hành một cuộc tranh luận”.11] Những biểu hiện trên đây của năng lực ngôn ngữ và văn học của học sinh lớp 12 chính là căn cứ để chúng tôi dựa vào đó xây dựng hệ thống bài tập để góp phần phát triển năng lực văn học cho các em. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phương pháp dạy học đọc hiểu theo định hướng phát triển năng lực văn học 1.1 Quan niệm về dạy học đọc hiểu theo định hướng phát triển năng lực Dạy học đọc hiểu VB theo định hƣớng phát triển năng lực của HS đƣợc hiểu là thông qua việc hƣớng dẫn HS cách đọc hiểu và tự đọc hiểu đƣợc VB, GV sẽ giúp học sinh phát triển đƣợc các năng lực chung (NL giải quyết vấn đề, NL sáng tạo, NL hợp tác, NL công nghệ thông tin,…) và năng lực chuyên biệt (nhƣ năng lực giao tiếp và năng lực học). Trƣớc đây, nhắc đến dạy tác phẩm văn học là nhắc đến giảng văn.
Trong giờ học, GV chủ yếu sử dụng phƣơng pháp thuyết trình, truyền thụ kiến thức một chiều cho HS. HS coi cách hiểu của GV là duy nhất, học tập một cách thụ động.