CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VĂN HỌC CHO HỌC SINH TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Quản lý dạy học đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, trình bày trong các sách chuyên khảo. Đặng Quốc Bảo (1997) trong cuốn Một số khái niệm về quản lý giáo dục [3] và Vấn đề “Quản lý” và “Quản lý nhà trường” [4] đã đưa ra các khái niệm có liên quan tới quản lý, quản lý nhà trường, quản lý dạy học. Tác giả cũng đã làm rõ nội dung, quy trình quản lý dạy học nói chung.
Phạm Khắc Chương trong cuốn Lý luận Quản lý Giáo dục đại cương [9] cũng đưa ra khái niệm quản lý giáo dục và quản lý dạy học. Ngoài việc làm rõ nội dung quản lý dạy học, tác giả cũng làm rõ vai trò của hiệu trưởng nhà trường trong quản lý dạy học. Trần Kiểm trong cuốn sách Quản lý giáo dục và trường học [24] và Khoa học tổ chức và tổ chức giáo dục [25] cũng trình bày khá chi tiết các nội dung quản lý dạy học. Trong bối cảnh chuyển đổi mạnh mẽ của nền giáo dục, hoạt động dạy học hiện nay lấy người học làm trung tâm, dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh.
Dạy học tiếng việt theo hướng phát triển năng lực do 7 đó cũng đã được nhiều tác giả quan tâm, nhiều bài viết đề cập tới. Trần Thế Sơn trong bài viết Bàn về dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học theo hướng tiếp cận năng lực đăng trên https://moet.vn/giaoducquocdan/giao-duc-tieu- hoc/Pages/default.aspx?ItemID=4553 đã làm rõ năng lực tiếng việt là gì? Đặc biệt tác giả làm rõ dạy tiếng Việt theo hướng tiếp cận năng lực gồm những nội dung gì?. Trước hết, bàn về dạy học sinh phát triển năng lực tiếp nhận lời nói, bao gồm năng lực nghe - hiểu và năng lực đọc - hiểu. [41] Đỗ Việt Hùng trong bài nghiên cứu Dạy – học tiếng Việt trong nhà trường theo hướng phát triển năng lực (http://nguvan.vn/Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u/Ng%C3%B4n- ng%E1%BB%AF/p/day--hoc-tieng-viet-trong-nha-truong-theo-huong-phat-trien- nang-luc-748) làm rõ định hướng phát triển năng lực người học trong môn Tiếng Việt.
Các đơn vị cấu thành năng lực tiếng Việt hay các năng lực cụ thể của năng lực tiếng Việt cũng đã được tác giả làm rõ. [21] Quản lý dạy học môn Tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực văn học cho học sinh cũng được nhiều tác giả đề cập trong nghiên cứu của mình. Hoàng Tuyết Minh (2017), Quản lí dạy học theo tiếp cận năng lực ở trường tiểu học trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2. Tác giả đã làm rõ được sự khác biệt trong tiếp cận năng lực so với các cách thức tiếp cận khác 8 trong giảng dạy môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học, phân tích thực tiễn triển khai tại các trường tiểu học quận Hà Đông, thành phố Hà Nội [33] Mai Thị Thanh Dân, Quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiêu học theo hướng tiếp cận năng lực: thực trạng và giải pháp cũng nghiên cứu về năng lực và quản lý dạy học môn tiếng việt theo hướng tiếp cận năng lực.
Năng lực tiếng Việt được hiểu là năng lực tiếp nhận văn bản và năng lực sản sinh văn bản (bao gồm văn bản nói và văn bản viết). Năng lực tiếp nhận văn bản bao gồm nghe - hiểu và đọc - hiểu. Tuy nhiên, vì quan niệm cho rằng học sinh học tiếng Việt với tư cách là tiếng mẹ đẻ nên chúng ta thường nặng về phát triển khả năng đọc - hiểu văn bản của học sinh; trong khi năng lực nghe - hiểu (như nghe để có ý kiến phản hồi hay nghe người khác đọc, kể câu chuyện và kể lại hoặc tìm hiểu nội dung câu chuyện chẳng hạn) nhiều khi xuất hiện với tần suất khá lớn trong cuộc sống mỗi người nhưng lại chưa được chú ý, kể cả trong dạy học và đánh giá. Tiếng Việt là một trong những môn học quan trọng ở cấp Tiểu học.
Bên cạnh việc học toán để phát triển tư duy lôgic cho học sinh, việc học tiếng Việt sẽ giúp học sinh hình và phát triển tư duy ngôn ngữ. Thông qua môn Tiếng Việt, học sinh sẽ được học cách giao tiếp, truyền đạt tư tưởng, cảm xúc của mình một cách chính xác và biểu cảm. Thực tiễn đó đòi hỏi cán bộ quản lí các trường tiểu học phải đổi mới công tác quản lí hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo tiếp cận năng lực nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại trà cũng như chất lượng mũi nhọn. [10] 9 Trần Thị Ngọc Hiếu (2020) cũng đã có nghiên cứu về thực trạng quản lý dạy học môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực học sinh tiểu học.
Bài viết trình bày kết quả khảo sát thực trạng về công tác quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực học sinh từ 15 trường tại Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó có 10 trường thuộc nội thành và 05 trường thuộc ngoại thành với tổng số 762 người gồm: cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thiết thực trong việc đề xuất các biện pháp quản lý hiệu quả hoạt động này trong tương lai. Tác giả nhận thấy nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý, tổ trưởng chuyên môn và giáo viên về sự cần thiết của hoạt động dạy học môn tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực học sinh và tầm quan trọng của việc quản lý công tác này chưa thực sự cao.[18] Nguyễn Thị Kim Loan (2020), Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, Hà Nội theo tiếp cận năng lực, luận văn thạc sỹ, Học viên Khoa học xã hội. Tác giả đã nghiên cứu lý luận và thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, Hà Nội theo tiếp cận năng lực, từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học theo tiếp cận năng lực góp phần nâng cao chất lượng dạy học cấp tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.
[27] 10 Đinh Hải Đoàn (2021), Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh các trường tiểu học thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông, luận văn thạc sỹ, Học viên Khoa học xã hội. Các biện pháp được đề xuất gồm: Tổ chức các hoạt động bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho giáo viên, cán bộ quản lý về quản lý dạy học và dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh; Tổ chức các hoạt động bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên Tiếng Việt về dạy học theo tiếp cận năng lực; Chỉ đạo thực hiện đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn, khuyến khích hoạt động trong dạy học của giáo viên theo hướng phát triển năng lực; Chỉ đạo giáo viên tăng cường sử dụng có hiệu quả các phương tiện kỹ thuật, đồ dùng dạy học môn Tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực học sinh; Chỉ đạo thực hiện đổi mới kiểm tra - đánh giá kết quả dạy học môn Tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực học sinh; Chỉ đạo thực hiện đổi mới hoạt động đánh giá giáo viên thông qua kết quả dạy học môn Tiếng Việt. [13] Mặc dù có khá nhiều công trình có đề cập tới quản lý dạy học môn Tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực cho học sinh tại các trường tiểu học nhưng các công trình này đều hướng tới nghiên cứu toàn bộ năng lực nói chung. Hiện tại, chưa có công trình nghiên cứu về quản lý dạy học môn Tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực văn học cho học sinh tại các trường tiểu 11 học.
Do đó, luận văn của tác giả hoàn toàn không trùng lắp với các công trình khác có liên quan. Một số khái niệm cơ bản 1. Dạy học, dạy học môn Tiếng Việt Hiện nay, hoạt động dạy học không chỉ bao gồm dạy kiến thức mà còn phải kích thích người học có khả năng tư duy, sáng tạo. Hoạt động dạy học chỉ diễn ra thành công khi có phương pháp dạy học, nội dung, phương tiện.
Giáo viên phải là người hướng dẫn, điều khiển, dẫn dắt học sinh tiếp cận và lĩnh hội tri thức, qua đó tăng cường tính sáng tạo, sự hiểu biết về thế giới quan, nhân sinh quan cho học sinh và hình thành nhân cách cho học sinh. Trong các trường học, hoạt động dạy học là hoạt động cơ bản và quản lý hoạt động dạy học là hoạt động cần thiết của Ban Giám hiệu nhà trường, đứng đầu là Hiệu trng nhằm đảm bảo hiệu quả của hoạt động dạy học. Hoạt động dạy học môn Tiếng Việt là hoạt động dạy học nhằm hình thành phát triển ở học sinh tiểu học các kỹ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Trong dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học thầy giáo là chủ thể của hoạt động này.
Năng văn học Theo chương trình 2018, năng lực văn học - một biểu hiện của năng lực thẩm mỹ “là khả năng nhận biết, phân tích, tái hiện và sáng tạo các yếu tố thẩm mỹ thông qua hoạt động tiếp nhận và tạo lập văn bản văn học”. Như vậy, năng lực văn học bao gồm hai phương diện: tiếp nhận và tạo lập văn bản văn học theo đặc trưng của từng thể loại (với các yếu tố thẩm mỹ riêng). Tuy nhiên, với học sinh phổ thông, chương trình nghiêng về yêu cầu học sinh tiếp nhận văn học hơn là tạo lập văn bản văn học (còn gọi là sáng tác văn học). Năng lực văn học, một biểu hiện của năng lực thẩm mĩ, là khả năng tiếp nhận và tạo lập văn bản văn học.
Khả năng tiếp nhận văn bản văn học được thể hiện qua việc vận dụng kiến thức văn học và kinh nghiệm cá nhân vào việc đọc, giải mã, kiến tạo nghĩa và đánh giá văn bản văn học. Khả năng tạo lập văn bản văn học được thể hiện qua khả năng biểu đạt cảm xúc và ý tưởng bằng hình thức ngôn từ mang tính thẩm mĩ cao, có thể sáng tác văn học. Phát triển năng lực văn học Phát triển năng lực văn học là quá trình vận động theo chiều hướng tiến lên từ thấp tới cao về khả năng nhận biết, phân tích, tái hiện và sáng tạo các yếu tố thẩm mỹ thông qua hoạt động tiếp nhận và tạo lập văn bản văn học của học sinh.