Luận văn thạc sĩ vnu ued tuyển chọn xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hóa học phần kim loại dùng bồi dưỡng học sinh giỏi trung học phổ thông

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật nghiên cứu vnu ued tuyển chọn xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hóa học phần kim loại dùng bồi dưỡng học, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Chuyên ngành

Sư phạm Hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2012

122
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI VÀ BÀI TẬP HÓA HỌC

1.1. Hoạt động nhận thức và tư duy sáng tạo của HS trong quá trình học tập

1.2. Lý luận trong công tác bồi dưỡng HSG

1.3. Lý luận về bài tập trong dạy học Hóa học ở trường THPT

1.4. Lý luận về sử dụng bài tập Hóa học trong dạy học ở trường THPT

1.5. Cơ sở thực tiễn

1.6. Thực tế công tác bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường trung học phổ thông

1.7. Vấn đề sử dụng bài tập hoá học trong việc giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường trung học phổ thông

1.8. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: TUYỂN CHỌN - XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHẦN KIM LOẠI CHO BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

2.1. Nguyên tắc tuyển chọn và xây dựng bài tập hoá học

2.2. Nguyên tắc tuyển chọn hệ thống bài tập hóa học

2.3. Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập hóa học

2.4. Cơ sở xây dựng hệ thống bài tập

2.5. Tuyển chọn xây dựng hệ thống bài tập phần kim loại để bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường THPT

2.6. Những vấn đề lý thuyết phần đại cương về kim loại. Các nhóm kim loại

2.7. Một số biện pháp sử dụng hệ thống bài tập hoá học phần kim loại trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường THPT

2.8. Biện pháp phát hiện học sinh giỏi

2.9. Biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi

2.10. Hệ thống bài tập phần kim loại dùng cho bồi dưỡng học sinh giỏi

2.11. Hệ thống bài tập tự luận phần đại cương của kim loại

2.12. Bài tập về các kim loại nhóm IA, IIA và hợp chất

2.13. Bài tập về Nhôm, Sắt, Crom và các hợp chất của chúng

2.14. Bài tập về các kim loại Đồng, Bạc, Vàng và hợp chất của chúng

2.15. Bài tập về Kẽm, Thiếc, Chì và hợp chất của chúng

2.16. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm

3.2. Thử nghiệm sử dụng hệ thống bài tập phần kim loại bồi dưỡng HSG

3.3. Đánh giá sự hợp lí, tính khả dụng và hiệu quả của hệ thống bài tập lớp 12 phần kim loại sử dụng bồi dưỡng HSG

3.4. Nội dung thực nghiệm sư phạm

3.5. Đánh giá được sự phù hợp các dạng câu hỏi và bài tập với trình độ tư duy của học sinh

3.6. Thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập cũng như những biện pháp đã trình bày trong nội dung luận văn, đánh giá được năng lực nhận thức hóa học từ đó phát hiện và bồi dưỡng HS có năng khiếu hóa học

3.7. Thông qua sử dụng hệ thống câu hỏi và bài tập hóa học, đánh giá được hiệu quả sử hệ thống bài tập hóa học dành cho HSG

3.8. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

3.9. Phạm vi thực nghiệm sư phạm

3.10. Đối tượng và cách thức tiến hành thực nghiệm sư phạm

3.11. Kết quả thực nghiệm sư phạm. Xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm

3.12. Phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về hệ thống bài tập hóa học phần kim loại cho học sinh giỏi

Hệ thống bài tập hóa học phần kim loại đóng vai trò quan trọng trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi trung học phổ thông. Việc xây dựng một hệ thống bài tập chất lượng không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn phát triển tư duy sáng tạo. Các bài tập này được thiết kế để phù hợp với chương trình học và các kỳ thi học sinh giỏi, từ đó nâng cao khả năng giải quyết vấn đề của học sinh.

1.1. Khái niệm và vai trò của bài tập hóa học kim loại

Bài tập hóa học kim loại là những câu hỏi và bài tập liên quan đến tính chất, cấu trúc và ứng dụng của các loại kim loại. Chúng giúp học sinh hiểu rõ hơn về các khái niệm hóa học cơ bản và phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề.

1.2. Lợi ích của việc bồi dưỡng học sinh giỏi qua bài tập hóa học

Việc bồi dưỡng học sinh giỏi thông qua bài tập hóa học không chỉ giúp học sinh củng cố kiến thức mà còn phát triển tư duy phản biện và khả năng sáng tạo. Hệ thống bài tập được thiết kế hợp lý sẽ tạo ra môi trường học tập tích cực và hiệu quả.

II. Những thách thức trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn hóa học

Mặc dù việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn hóa học rất quan trọng, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức. Các giáo viên thường gặp khó khăn trong việc thiết kế bài tập phù hợp với trình độ và nhu cầu của học sinh. Ngoài ra, việc đánh giá hiệu quả của các bài tập cũng là một vấn đề cần được quan tâm.

2.1. Khó khăn trong việc thiết kế bài tập phù hợp

Việc thiết kế bài tập hóa học phù hợp với trình độ học sinh giỏi là một thách thức lớn. Các giáo viên cần phải cân nhắc giữa độ khó của bài tập và khả năng tiếp thu của học sinh để đảm bảo hiệu quả bồi dưỡng.

2.2. Đánh giá hiệu quả của hệ thống bài tập

Đánh giá hiệu quả của hệ thống bài tập hóa học là một vấn đề phức tạp. Cần có các tiêu chí rõ ràng để đánh giá sự tiến bộ của học sinh, từ đó điều chỉnh phương pháp giảng dạy cho phù hợp.

III. Phương pháp xây dựng hệ thống bài tập hóa học phần kim loại

Để xây dựng một hệ thống bài tập hóa học phần kim loại hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp khoa học và thực tiễn. Việc lựa chọn bài tập cần dựa trên các nguyên tắc nhất định để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi.

3.1. Nguyên tắc tuyển chọn bài tập hóa học

Nguyên tắc tuyển chọn bài tập hóa học bao gồm tính phù hợp với chương trình học, độ khó hợp lý và khả năng phát triển tư duy cho học sinh. Các bài tập cần được phân loại rõ ràng để dễ dàng áp dụng trong giảng dạy.

3.2. Các loại bài tập hóa học phần kim loại

Hệ thống bài tập hóa học phần kim loại có thể bao gồm bài tập lý thuyết, bài tập thực hành và bài tập trắc nghiệm. Mỗi loại bài tập sẽ có những đặc điểm riêng, phù hợp với mục tiêu bồi dưỡng học sinh giỏi.

IV. Ứng dụng thực tiễn của hệ thống bài tập hóa học phần kim loại

Hệ thống bài tập hóa học phần kim loại không chỉ được sử dụng trong giảng dạy mà còn có thể áp dụng trong các kỳ thi học sinh giỏi. Việc áp dụng thực tiễn sẽ giúp học sinh làm quen với các dạng bài tập và nâng cao khả năng giải quyết vấn đề trong thời gian ngắn.

4.1. Kinh nghiệm từ các kỳ thi học sinh giỏi

Nhiều học sinh giỏi đã đạt thành tích cao trong các kỳ thi nhờ vào việc luyện tập với hệ thống bài tập hóa học phần kim loại. Các bài tập này giúp học sinh làm quen với cấu trúc đề thi và phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề.

4.2. Tác động đến sự phát triển tư duy của học sinh

Hệ thống bài tập hóa học phần kim loại không chỉ giúp học sinh củng cố kiến thức mà còn phát triển tư duy phản biện và khả năng sáng tạo. Việc giải quyết các bài tập khó sẽ kích thích tư duy và khả năng phân tích của học sinh.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của hệ thống bài tập hóa học

Hệ thống bài tập hóa học phần kim loại có vai trò quan trọng trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi. Việc phát triển và cải tiến hệ thống bài tập này sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và phát hiện nhân tài trong lĩnh vực hóa học.

5.1. Tầm quan trọng của việc cải tiến hệ thống bài tập

Cải tiến hệ thống bài tập hóa học phần kim loại là cần thiết để đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của học sinh. Việc này sẽ giúp giáo viên có thêm công cụ hiệu quả trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi.

5.2. Hướng phát triển trong tương lai

Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển hệ thống bài tập hóa học phần kim loại để phù hợp với xu hướng giáo dục hiện đại. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy cũng sẽ là một hướng đi mới đầy tiềm năng.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ued tuyển chọn xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hóa học phần kim loại dùng bồi dưỡng học sinh giỏi trung học phổ thông

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về việc bồi dưỡng học sinh giỏi Chương 2: Xây dựng hệ thống bài tập phần kim loại lớp 12 dùng bồi dưỡng học sinh giỏi trường trung học phổ thông Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. - 10 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BỒI DƢỠNG HỌC SINH GIỎI VÀ BÀI TẬP HÓA HỌC. Hoạt động nhận thức và tư duy sáng tạo của HS trong quá trình học tập 1. Khái niệm nhận thức, tư duy Nhận thức [30] là một trong ba mặt của đời sống tâm lý con người (nhận thức, tình cảm, ý chí), là tiền đề của hai mặt kia đồng thời có quan hệ chặt chẽ với chúng và với các hiện tượng tâm lý khác.

Hoạt động nhận thức bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau, có thể chia hoạt động này gồm hai giai đoạn lớn: - Nhận thức cảm tính (gồm cảm giác, tri giác). - Nhận thức lý tính (gồm tư duy, tưởng tượng). Hoạt động nhận thức của HS trong quá trình dạy và học hoá học cũng nằm trong quy luật chung ấy. + Nhận thức cảm tính là sự phản ánh những thuộc tính bên ngoài của sự vật và hiện tượng thông qua sự tri giác của các giác quan.

Cảm giác là hình thức khởi đầu trong hoạt động nhận thức, nó chỉ phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật, hiện tượng. Tri giác được hình thành và phát triển trên cơ sở những cảm giác, nhưng tri giác không phải là những phép cộng đơn giản của cảm giác, tri giác phản ánh sự vật, hiện tượng một cách trọn vẹn và theo một cấu trúc nhất định. - Sự nhận thức cảm tính được thực hiện thông qua hình thức tri giác cao, có tính chủ động tích cực, có mục đích là sự quan sát. + Nhận thức lý tính Tưởng tượng là một quá trình tâm lý phản ánh những điều chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có.

Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ bên trong có tính quy luật của sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết. Vậy, tư duy là một quá trình tìm kiếm và phát hiện cái mới về chất một cách độc lập. Nét nổi bật của tư duy là tính "có vấn đề" tức là trong hoàn cảnh có vấn đề, tư duy được nảy sinh. - 11 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Những phẩm chất cơ bản của tư duy gồm : - Tính định hướng: nhanh chóng xác định đối tượng cần lĩnh hội, mục đích phải đạt và những con đường tối ưu để đạt được mục đích ấy.

- Bề rộng: thể hiện khả năng vận dụng nghiên cứu các đối tượng khác. - Độ sâu: thể hiện ở khả năng nắm vững ngày càng sâu sắc hơn bản chất của sự vật, hiện tượng. - Tính linh hoạt: thể hiện ở sự nhạy bén trong việc vận dụng những tri thức và cách thức hoạt động vào các tình huống khác nhau một cách sáng tạo. - Tính mềm dẻo: thể hiện ở hoạt động tư duy được tiến hành theo hướng xuôi và ngược chiều.

- Tính độc lập: thể hiện ở chỗ tự mình phát hiện được vấn đề, đề xuất được cách giải quyết và tự giải quyết vấn đề. - Tính khái quát: thể hiện ở chỗ khi giải quyết mỗi loại nhiệm vụ sẽ đưa ra mô hình khái quát, từ đó vận dụng để giải quyết các nhiệm vụ cùng loại. Như vậy quá trình tư duy là khâu cơ bản của quá trình nhận thức. Nắm bắt được quá trình này, người giáo viên sẽ hướng dẫn tư duy khoa học cho học sinh trong suốt quá trình dạy và học môn hoá học ở trường phổ thông.

Tư duy sáng tạo và những phẩm chất của tư duy sáng tạo Tư duy sáng tạo là những hoạt động tư duy có sáng kiến, tư duy sáng tạo là mức độ cao của tư duy. Tư duy sáng tạo có những phẩm chất sau : - Tính đổi mới: biểu hiện ở tính khác lạ, đổi mới trong tư duy, sự độc lập suy nghĩ, dám tìm ra cái mới. - Tính khuyếch tán : biểu hiện ở khả năng hiểu rộng những vấn đề nghiên cứu ở những cấu trúc khác nhau. - Tính độc đáo: thường không dập khuôn theo những quy tắc hoặc tri thức thông thường, biết giải quyết vấn đề một cách linh hoạt, ứng biến.

Những hình thức cơ bản của tư duy [15] a. Khái niệm : Khái niệm phản ánh những thuộc tính chung, bản chất của sự vật – hiện tượng, quá trình hiện thực. Là kết quả của sự tổng hợp, khái quát biện chứng các tài liệu kinh nghiệm, các khái niệm được hình thành từ trong quá trình lâu dài của con người nhận thức thế giới và cải tạo thế giới. - 12 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khái niệm nào cũng có nội hàm và ngoại diên.

Nội hàm là những thuộc tính chung, bản chất, đặc trưng cho các sự vật, hiện tượng, quá trình mà khái niệm phản ánh. Ngoại diên là toàn bộ những sự vật hay hiện tượng có chung cái thuộc tính bản chất làm thành nội hàm khái niệm. Ví dụ, “Bazơ là chất có khả năng nhận proton “ thì CO32-, S2-, NH3, R-NH2 là ngoại diên của khái niệm “Bazơ”. Axit là chất có khả năng cho proton thì HS-, NH4+, HCO3- là ngoại diên của khái niệm axit.

Phán đoán: Phán đoán phản ánh những mối liên hệ giữa các sự vật – hiện tượng và quá trình hiện thực. Trong phán đoán bao giờ cũng thể hiện một ý nghĩa nhằm khẳng định hay phủ định hiện thực. Phán đoán có tính đúng hoặc sai tuỳ thuộc vào điều khẳng định hay phủ định có thực hay không có thực ở đối tượng được phán đoán. Suy lý: Suy lý là hình thức suy nghĩ liên hệ các phán đoán lại với nhau để tạo thành một phán đoán mới.

Nhìn chung, suy lý gồm hai bộ phận: các phán đoán có trước (gọi là tiền đề) và các phán đoán có sau (gọi là kết luận). Suy lý được chia thành ba loại: suy lý diễn dịch, suy lý quy nạp và loại suy. * Suy lý diễn dịch: là suy lý đi từ nguyên lý chung, phổ biến đến cái riêng lẻ, cá biệt. * Suy lý quy nạp: là suy lý ngược lại của suy lý diễn dịch (nhưng hai loại suy lý này gắn bó mật thiết với nhau).

* Loại suy: là suy lý đi từ một số thuộc tính giống nhau của hai đối tượng để rút ra kết luận về những thuộc tính giống nhau khác của hai đối tượng đó. Hình thức này thường được sử dụng khi học về các nguyên tố cùng một nhóm nào đó có tính chất tương tự nhau. Ví dụ, trong chương kim loại kiềm, HS chỉ cần nghiên cứu kỹ về Natri và hợp chất của Natri, còn các kim loại kiềm và hợp chất của kim loại kiềm khác HS sẽ biết nhờ phép loại suy. Rèn luyện năng lực nhận thức của học sinh trong quá trình dạy và học hoá học Năng lực quan sát do hóa học là môn khoa học thực nghiệm và có thí nghiệm nên học sinh phải có khả năng quan sát.

Khi quan sát, giáo viên cần hướng dẫn, yêu cầu HS làm tốt các đề xuất sau: + Xác định rõ mục đích, ý nghĩa, yêu cầu, nhiệm vụ quan sát. - 13 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Chuẩn bị chu đáo (cả về tri thức và phương tiện) trước khi quan sát. + Tiến hành quan sát có kế hoạch và có hệ thống. + Khi quan sát cần tích cực sử dụng phương tiện hoá học.

+ Khuyến khích và tạo điều kiện cho HS sử dụng nhiều giác quan khi quan sát nhưng phải đảm bảo an toàn. + Cần ghi lại các kết quả quan sát, xử lý kết quả và rút ra kết luận cần thiết. Rèn luyện các thao tác tư duy Có năng lực quan sát tốt, ghi nhận được chính xác sự biến đổi của sự vật, hiện tượng nhưng không biết xâu chuỗi các hiện tượng đó lại với nhau và đưa ra những kết luận cần thiết cũng như thể hiện quan điểm cá nhân thì chưa đủ mà cần phải có tư duy [31]. Vì không có tư duy thì không có sự tiếp thu, không có sự vận dụng tri thức, HS không học tập được.

Do đó, phát triển tư duy đồng nghĩa với việc rèn luyện các thao tác tư duy là điều vô cùng quan trọng và cần thiết. Các thao tác đó gồm: + Phân tích: là quá trình dùng trí óc để phân tích đối tượng nhận thức thành những “bộ phận”, những thuộc tính, những mối liên hệ và quan hệ giữa chúng để nhận thức đối tượng sâu sắc hơn, trọn vẹn hơn. + Tổng hợp: là quá trình dùng trí óc để hợp nhất các “bộ phận”, những thuộc tính, những thành phần đã được tách ra nhờ phân tích thành một chỉnh thể. *Từ lí luận trên có thể thấy rằng, phân tích và tổng hợp có mối quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau tạo thành một thể thống nhất không tách rời.

Phân tích là cơ sở của tổng hợp, tổng hợp diễn ra trên cơ sở phân tích. + So sánh là quá trình dùng trí óc để xác định sự giống nhau hay khác nhau, sự đồng nhất hay không đồng nhất, sự bằng nhau hay không bằng nhau giữa các đối tượng nhận thức. Trong dạy học hoá học thường dùng hai loại so sánh là: so sánh tuần tự và so sánh đối chiếu. - So sánh tuần tự: là sự so sánh trong đó nghiên cứu xong từng đối tượng nhận thức rồi so sánh chúng với nhau.

Ví dụ, sau khi nghiên cứu về Crom và hợp chất Crom, yêu cầu HS so sánh với Nhôm và hợp chất của Nhôm. - So sánh đối chiếu: nghiên cứu hai đối tượng cùng một lúc hoặc khi nghiên cứu đối tượng thứ hai người ta phân tích thành từng bộ phận rồi đối chiếu với từng bộ phận của đối tượng thứ nhất. - 14 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ví dụ, so sánh tính chất của Mg và Ca là hai nguyên tố cùng nhóm IIA Có thể thấy rằng, so sánh có quan hệ chặt chẽ với phân tích và tổng hợp. + Trừu tượng hoá và khái quát hoá - Trừu tượng hoá là quá trình dùng trí óc để gạt bỏ những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ, quan hệ thứ yếu, không cần thiết về phương diện nào đó và chỉ giữ lại những yếu tố cần thiết để tư duy.

- Khái quát hoá là quá trình dùng trí óc để bao quát nhiều đối tượng khác nhau thành một nhóm, một loại theo những thuộc tính, những mối quan hệ nhất định.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Hệ thống bài tập hóa học phần kim loại cho học sinh giỏi trung học phổ thông" cung cấp một bộ bài tập phong phú và hướng dẫn chi tiết nhằm giúp học sinh nâng cao kiến thức và kỹ năng trong lĩnh vực hóa học, đặc biệt là phần kim loại. Tài liệu này không chỉ giúp học sinh giỏi củng cố kiến thức mà còn phát triển tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề thông qua các bài tập thực tiễn.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo tài liệu Bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học thông qua dạy học bài tập hóa học vô cơ cho học sinh lớp 12, nơi cung cấp các phương pháp dạy học hiệu quả cho phần hóa học vô cơ. Ngoài ra, tài liệu Bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học thông qua dạy học phần điện hóa học cũng là một nguồn tài liệu quý giá cho những ai muốn tìm hiểu sâu hơn về lĩnh vực này. Cuối cùng, bạn có thể tham khảo Phát triển năng lực tư duy cho học sinh trung học phổ thông qua hệ thống bài tập chương sự điện li hóa học 11 để thấy được cách thức phát triển tư duy cho học sinh thông qua các bài tập hóa học.

Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về việc bồi dưỡng học sinh giỏi trong môn hóa học, từ đó nâng cao hiệu quả học tập và giảng dạy.