Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về việc bồi dưỡng học sinh giỏi Chương 2: Xây dựng hệ thống bài tập phần kim loại lớp 12 dùng bồi dưỡng học sinh giỏi trường trung học phổ thông Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. - 10 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BỒI DƢỠNG HỌC SINH GIỎI VÀ BÀI TẬP HÓA HỌC. Hoạt động nhận thức và tư duy sáng tạo của HS trong quá trình học tập 1. Khái niệm nhận thức, tư duy Nhận thức [30] là một trong ba mặt của đời sống tâm lý con người (nhận thức, tình cảm, ý chí), là tiền đề của hai mặt kia đồng thời có quan hệ chặt chẽ với chúng và với các hiện tượng tâm lý khác.
Hoạt động nhận thức bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau, có thể chia hoạt động này gồm hai giai đoạn lớn: - Nhận thức cảm tính (gồm cảm giác, tri giác). - Nhận thức lý tính (gồm tư duy, tưởng tượng). Hoạt động nhận thức của HS trong quá trình dạy và học hoá học cũng nằm trong quy luật chung ấy. + Nhận thức cảm tính là sự phản ánh những thuộc tính bên ngoài của sự vật và hiện tượng thông qua sự tri giác của các giác quan.
Cảm giác là hình thức khởi đầu trong hoạt động nhận thức, nó chỉ phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật, hiện tượng. Tri giác được hình thành và phát triển trên cơ sở những cảm giác, nhưng tri giác không phải là những phép cộng đơn giản của cảm giác, tri giác phản ánh sự vật, hiện tượng một cách trọn vẹn và theo một cấu trúc nhất định. - Sự nhận thức cảm tính được thực hiện thông qua hình thức tri giác cao, có tính chủ động tích cực, có mục đích là sự quan sát. + Nhận thức lý tính Tưởng tượng là một quá trình tâm lý phản ánh những điều chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có.
Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ bên trong có tính quy luật của sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết. Vậy, tư duy là một quá trình tìm kiếm và phát hiện cái mới về chất một cách độc lập. Nét nổi bật của tư duy là tính "có vấn đề" tức là trong hoàn cảnh có vấn đề, tư duy được nảy sinh. - 11 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Những phẩm chất cơ bản của tư duy gồm : - Tính định hướng: nhanh chóng xác định đối tượng cần lĩnh hội, mục đích phải đạt và những con đường tối ưu để đạt được mục đích ấy.
- Bề rộng: thể hiện khả năng vận dụng nghiên cứu các đối tượng khác. - Độ sâu: thể hiện ở khả năng nắm vững ngày càng sâu sắc hơn bản chất của sự vật, hiện tượng. - Tính linh hoạt: thể hiện ở sự nhạy bén trong việc vận dụng những tri thức và cách thức hoạt động vào các tình huống khác nhau một cách sáng tạo. - Tính mềm dẻo: thể hiện ở hoạt động tư duy được tiến hành theo hướng xuôi và ngược chiều.
- Tính độc lập: thể hiện ở chỗ tự mình phát hiện được vấn đề, đề xuất được cách giải quyết và tự giải quyết vấn đề. - Tính khái quát: thể hiện ở chỗ khi giải quyết mỗi loại nhiệm vụ sẽ đưa ra mô hình khái quát, từ đó vận dụng để giải quyết các nhiệm vụ cùng loại. Như vậy quá trình tư duy là khâu cơ bản của quá trình nhận thức. Nắm bắt được quá trình này, người giáo viên sẽ hướng dẫn tư duy khoa học cho học sinh trong suốt quá trình dạy và học môn hoá học ở trường phổ thông.
Tư duy sáng tạo và những phẩm chất của tư duy sáng tạo Tư duy sáng tạo là những hoạt động tư duy có sáng kiến, tư duy sáng tạo là mức độ cao của tư duy. Tư duy sáng tạo có những phẩm chất sau : - Tính đổi mới: biểu hiện ở tính khác lạ, đổi mới trong tư duy, sự độc lập suy nghĩ, dám tìm ra cái mới. - Tính khuyếch tán : biểu hiện ở khả năng hiểu rộng những vấn đề nghiên cứu ở những cấu trúc khác nhau. - Tính độc đáo: thường không dập khuôn theo những quy tắc hoặc tri thức thông thường, biết giải quyết vấn đề một cách linh hoạt, ứng biến.
Những hình thức cơ bản của tư duy [15] a. Khái niệm : Khái niệm phản ánh những thuộc tính chung, bản chất của sự vật – hiện tượng, quá trình hiện thực. Là kết quả của sự tổng hợp, khái quát biện chứng các tài liệu kinh nghiệm, các khái niệm được hình thành từ trong quá trình lâu dài của con người nhận thức thế giới và cải tạo thế giới. - 12 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khái niệm nào cũng có nội hàm và ngoại diên.
Nội hàm là những thuộc tính chung, bản chất, đặc trưng cho các sự vật, hiện tượng, quá trình mà khái niệm phản ánh. Ngoại diên là toàn bộ những sự vật hay hiện tượng có chung cái thuộc tính bản chất làm thành nội hàm khái niệm. Ví dụ, “Bazơ là chất có khả năng nhận proton “ thì CO32-, S2-, NH3, R-NH2 là ngoại diên của khái niệm “Bazơ”. Axit là chất có khả năng cho proton thì HS-, NH4+, HCO3- là ngoại diên của khái niệm axit.
Phán đoán: Phán đoán phản ánh những mối liên hệ giữa các sự vật – hiện tượng và quá trình hiện thực. Trong phán đoán bao giờ cũng thể hiện một ý nghĩa nhằm khẳng định hay phủ định hiện thực. Phán đoán có tính đúng hoặc sai tuỳ thuộc vào điều khẳng định hay phủ định có thực hay không có thực ở đối tượng được phán đoán. Suy lý: Suy lý là hình thức suy nghĩ liên hệ các phán đoán lại với nhau để tạo thành một phán đoán mới.
Nhìn chung, suy lý gồm hai bộ phận: các phán đoán có trước (gọi là tiền đề) và các phán đoán có sau (gọi là kết luận). Suy lý được chia thành ba loại: suy lý diễn dịch, suy lý quy nạp và loại suy. * Suy lý diễn dịch: là suy lý đi từ nguyên lý chung, phổ biến đến cái riêng lẻ, cá biệt. * Suy lý quy nạp: là suy lý ngược lại của suy lý diễn dịch (nhưng hai loại suy lý này gắn bó mật thiết với nhau).
* Loại suy: là suy lý đi từ một số thuộc tính giống nhau của hai đối tượng để rút ra kết luận về những thuộc tính giống nhau khác của hai đối tượng đó. Hình thức này thường được sử dụng khi học về các nguyên tố cùng một nhóm nào đó có tính chất tương tự nhau. Ví dụ, trong chương kim loại kiềm, HS chỉ cần nghiên cứu kỹ về Natri và hợp chất của Natri, còn các kim loại kiềm và hợp chất của kim loại kiềm khác HS sẽ biết nhờ phép loại suy. Rèn luyện năng lực nhận thức của học sinh trong quá trình dạy và học hoá học Năng lực quan sát do hóa học là môn khoa học thực nghiệm và có thí nghiệm nên học sinh phải có khả năng quan sát.
Khi quan sát, giáo viên cần hướng dẫn, yêu cầu HS làm tốt các đề xuất sau: + Xác định rõ mục đích, ý nghĩa, yêu cầu, nhiệm vụ quan sát. - 13 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Chuẩn bị chu đáo (cả về tri thức và phương tiện) trước khi quan sát. + Tiến hành quan sát có kế hoạch và có hệ thống. + Khi quan sát cần tích cực sử dụng phương tiện hoá học.
+ Khuyến khích và tạo điều kiện cho HS sử dụng nhiều giác quan khi quan sát nhưng phải đảm bảo an toàn. + Cần ghi lại các kết quả quan sát, xử lý kết quả và rút ra kết luận cần thiết. Rèn luyện các thao tác tư duy Có năng lực quan sát tốt, ghi nhận được chính xác sự biến đổi của sự vật, hiện tượng nhưng không biết xâu chuỗi các hiện tượng đó lại với nhau và đưa ra những kết luận cần thiết cũng như thể hiện quan điểm cá nhân thì chưa đủ mà cần phải có tư duy [31]. Vì không có tư duy thì không có sự tiếp thu, không có sự vận dụng tri thức, HS không học tập được.
Do đó, phát triển tư duy đồng nghĩa với việc rèn luyện các thao tác tư duy là điều vô cùng quan trọng và cần thiết. Các thao tác đó gồm: + Phân tích: là quá trình dùng trí óc để phân tích đối tượng nhận thức thành những “bộ phận”, những thuộc tính, những mối liên hệ và quan hệ giữa chúng để nhận thức đối tượng sâu sắc hơn, trọn vẹn hơn. + Tổng hợp: là quá trình dùng trí óc để hợp nhất các “bộ phận”, những thuộc tính, những thành phần đã được tách ra nhờ phân tích thành một chỉnh thể. *Từ lí luận trên có thể thấy rằng, phân tích và tổng hợp có mối quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau tạo thành một thể thống nhất không tách rời.
Phân tích là cơ sở của tổng hợp, tổng hợp diễn ra trên cơ sở phân tích. + So sánh là quá trình dùng trí óc để xác định sự giống nhau hay khác nhau, sự đồng nhất hay không đồng nhất, sự bằng nhau hay không bằng nhau giữa các đối tượng nhận thức. Trong dạy học hoá học thường dùng hai loại so sánh là: so sánh tuần tự và so sánh đối chiếu. - So sánh tuần tự: là sự so sánh trong đó nghiên cứu xong từng đối tượng nhận thức rồi so sánh chúng với nhau.
Ví dụ, sau khi nghiên cứu về Crom và hợp chất Crom, yêu cầu HS so sánh với Nhôm và hợp chất của Nhôm. - So sánh đối chiếu: nghiên cứu hai đối tượng cùng một lúc hoặc khi nghiên cứu đối tượng thứ hai người ta phân tích thành từng bộ phận rồi đối chiếu với từng bộ phận của đối tượng thứ nhất. - 14 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ví dụ, so sánh tính chất của Mg và Ca là hai nguyên tố cùng nhóm IIA Có thể thấy rằng, so sánh có quan hệ chặt chẽ với phân tích và tổng hợp. + Trừu tượng hoá và khái quát hoá - Trừu tượng hoá là quá trình dùng trí óc để gạt bỏ những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ, quan hệ thứ yếu, không cần thiết về phương diện nào đó và chỉ giữ lại những yếu tố cần thiết để tư duy.
- Khái quát hoá là quá trình dùng trí óc để bao quát nhiều đối tượng khác nhau thành một nhóm, một loại theo những thuộc tính, những mối quan hệ nhất định.