phần Mở đầu và Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn đƣợc triển khai trong 3 chƣơng : Chƣơng 1: Khái quát về dân tộc Sán Chay ở Tức Tranh, Phú Lƣơng, Thái Nguyên và một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài. Chƣơng 2: Các dạng thức Hát ví Lƣu Tam của dân tộc Sán Chay ở Tức Tranh, Phú Lƣơng, Thái Nguyên. Chƣơng 3: Nội dung, nghệ thuật và vấn đề bảo tồn Hát ví Lƣu Tam của dân tộc Sán Chay ở Tức Tranh, Phú Lƣơng, Thái Nguyên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn NỘI DUNG Chƣơng 1 KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC SÁN CHAY Ở TỨC TRANH, PHÚ LƢƠNG, THÁI NGUYÊN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.
Khái quát về dân tộc Sán Chay ở Việt Nam và ở Phú Lƣơng, Thái Nguyên. Người Sán Chay ở Việt Nam Ngƣời Sán Chay là quần thể cƣ dân nông nghiệp làm lúa nƣớc, chủ yếu tập trung ở các tỉnh Đông bắc Bắc Bộ nhƣ Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Giang và sống rải rác ở các tỉnh: Quảng Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn. Hiện tại có một nhóm ngƣời vào Tây Nguyên lập nghiệp đƣợc tổ chức thành các làng. Dân tộc Sán Chay còn có các tên gọi: Sán Chí, Cao Lan, Mán Cao Lan, Hờn Bận… Tổ tiên của ngƣời Sán Chay xƣa kia là vùng giáp ranh giữa các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Nam - Trung Quốc.
Do những biến động về lịch sử họ đã di cƣ đến nƣớc ta vào khoảng thế kỷ thứ XVIII. Ngƣời Sán Chay có các nhóm địa phƣơng, nhóm Cao Lan nói ngôn ngữ Tày, Thái và nhóm Sán Chỉ nói thổ ngữ Hán, Quảng Đông. Tiếng nói Cao Lan thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, ngữ hệ (Thái - Ka Đai), còn tiếng Sán Chỉ thuộc ngôn ngữ Hán (ngữ hệ Hán - Tăng). Do có tình trạng song ngữ này mà có nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc của ngƣời Sán Chay.
Ngƣời Sán Chay thờ tổ tiên là chính song cũng chịu nhiều ảnh hƣởng của Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, ngƣời Sán Chay ở Việt Nam có dân số 169.410 ngƣời, có mặt tại 58 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Ngƣời Sán Chay cƣ trú tập trung tại các tỉnh: Tuyên Quang (61.343 ngƣời, chiếm 36,2 % ), Thái Nguyên (32.483 ngƣời, chiếm 19,2 % ), Bắc Giang (25.821 ngƣời chiếm 15,2%), Quảng Ninh (13.786 ngƣời 8,1%), Yên Bái (8.461 ngƣời chiếm 5%), Cao Bằng (7.058 ngƣời chiếm 4,2%), Đắk Lắk (5.220 ngƣời chiếm 3,1%), Lạng Sơn (4.384 ngƣời chiếm 2,6%, Phú Thọ (3.294 ngƣời chiếm 1,9%), Vĩnh Phúc (1.611 ngƣời chiếm 1%)… Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn Nhƣ vậy, theo thống kê về ngƣời Sán Chay ở Việt Nam thì Thái Nguyên là một trong những tỉnh có nhiều ngƣời Sán Chay sinh sống chiếm 19,2%. Người Sán Chay ở Phú Lương - Thái Nguyên Phú Lƣơng là huyện miền núi nằm ở vùng phía Bắc của tỉnh Thái Nguyên, nằm trong toạ độ địa lý từ 21036 đến 21055 độ vĩ bắc, 105037 đến 105046 độ kinh đông; phía Bắc giáp huyện Chợ Mới (tỉnh Bắc Cạn), phía Nam và Đông Nam giáp thành phố Thái Nguyên, phía Tây giáp huyện Định Hoá, phía Tây Nam giáp huyện Đại Từ, phía Đông giáp huyện Đồng Hỷ; huyện lỵ đặt tại thị trấn Đu, cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 22km về phía Bắc (theo Quốc lộ 3).
Huyện Phú Lƣơng có diện tích tự nhiên 368,82 km2, trong đó đất nông nghiệp 119,79 km2; đất lâm nghiệp 164,98km2 (chiếm 44,73% tổng diện tích đất tự nhiên); đất nuôi trồng thuỷ sản 6,65km2; đất phi nông nghiệp 46,63km2; đất chƣa sử dụng 31,64km2. Địa hình Phú Lƣơng tƣơng đối phức tạp, độ cao trung bình so với mặt nƣớc biển từ 100m đến 400m. Các xã ở vùng Bắc và Tây Bắc huyện có nhiều núi cao, độ cao trung bình từ 300m đến 400m, độ dốc phần lớn trên 200; thảm thực vật dầy, tán che phủ cao, phần nhiều lá rừng xanh quanh năm. Các xã ở vùng phía Nam huyện địa hình bằng phẳng hơn, có nhiều đồi và núi thấp, độ dốc thƣờng dƣới 150.
Đây là vùng địa hình mang tính chất của vùng trung du nhiều đồi, ít ruộng. Từ phía Bắc xuống phía Nam huyện, độ cao giảm dần. Dân cƣ Phú Lƣơng gồm ba bộ phận chính: một là dân bản địa định cƣ từ lâu đời; hai là dân phu đƣợc bọn tƣ bản Pháp tuyển mộ vào làm thuê trong các hầm mỏ, đồn điền; ba là đồng bào ở các tỉnh miền xuôi di cƣ lên sinh cơ lập nghiệp. Về dân số, toàn huyện Phú Lƣơng năm 1933 có 7.033 ngƣời; trƣớc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 chƣa tới 10.000 ngƣời; trong kháng chiến chống Pháp có khoảng 13.700 ngƣời; đầu những năm 1970 là 54.676 ngƣời; theo tổng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn điều tra dân số ngày 1- 4 - 1989 là 107.390 ngƣời; năm 1996 gần 110.
Từ ngày 1-1-1997, do 10 xã, thị trấn vùng phía Bắc huyện đƣợc chuyển về huyện Bạch Thông (tỉnh Bắc Kạn) nên dân số của huyện giảm xuống. Cuối năm 2006, dân số toàn huyện là 106.257 ngƣời (trong đó nam 53.079 ngƣời, nữ 53.178 ngƣời; số ở nông thôn là 98.563 ngƣời, sống ở đô thị là 7.694 ngƣời; dân tộc Kinh chiếm 54,2%, Tày 21,1%, Sán Chay 8,05%, Nùng 4,5%, Sán Dìu 3,29% còn lại 4,82% là ngƣời các dân tộc Thái, Hoa, Hmông và một số dân tộc khác. Theo thống kê, dân tộc Sán Chay đứng thứ ba sau dân tộc Kinh và dân tộc Tày trong số các dân tộc của huyện. Ở Phú Lƣơng, ngƣời Sán Chay thƣờng tập trung ở các chân đồi, gần các con sông, cánh rừng.
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, ngƣời Sán Chay đã sát cánh bên nhau, cùng chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt, biến những mảnh đất khô cằn thành những cánh đồng màu mỡ. Từ cuộc sống vất vả, lam lũ, những lời ca, tiếng hát đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu đối với họ trong đó phải kể tới Hát ví Lƣu Tam. Khái quát về dân tộc Sán Chay ở Tức Tranh, Phú Lƣơng, Thái Nguyên. Trong huyện Phú Lƣơng có rất nhiều các dân tộc sinh sống nhƣ dân tộc Kinh, Tày, Sán Chay, Nùng, Sán Dìu…ở các xã khác nhau nhƣng chúng tôi đặc biệt quan tâm tới dân tộc Sán Chay ở Tức Tranh.
Trong xã Tức Tranh có 24 xóm: Đồng Tâm, Đồng Tiến, Đồng Lƣờng, Đồng Danh, Đồng Hút, Đồng Lòng, Gốc Cọ, Gốc Mít, Gốc Xim, Gốc Gạo, Đan Khê, Tân Khê, Thác Dài, Ngoài Tranh, Cây Thị, Khe Xiêm, Thâm Găng, Quyết Tiến, Quyết Thắng, Đập Tràn, Minh Hợp, Bãi Bằng, Khe Cốc, Tân Thái thì xóm Đồng Tâm có dân tộc Sán Chay cƣ trú tập trung nhất (chiếm 93%). Dân tộc Sán Chay ở nơi đây đã gìn giữ đƣợc rất nhiều những bản sắc văn hóa độc đáo trong đó có Hát ví Lƣu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn Tam mà đề tài luận văn quan tâm nên việc tìm hiểu về ngƣời Sán Chay tại xóm Đồng Tâm là một việc làm cần thiết. Nguồn gốc lịch sử. Đồng Tâm là xóm đầu tiên của xã Tức Tranh và huyện Phú Lƣơng đƣợc hai lần nhận bằng văn hóa tiêu biểu cấp Tỉnh.
Xóm đƣợc hình thành từ năm 1926 gồm 8 hộ với 40 ngƣời lúc đầu xây dựng xóm. Tất cả những hộ này đều là dân tộc Sán Chay có nguồn gốc từ các huyện Phú Lƣơng, Đại Từ, Đồng Hỷ quần tụ về lấy tên là làng Đồng Báng. Đến năm 1960, trong phong trào xây dựng hợp tác xã, làng Đồng Báng đƣợc chuyển thành xóm Đồng Tâm. Năm 1996, phòng Văn hóa - Thông tin huyện Phú Lƣơng đã chọn xóm Đồng Tâm làm đơn vị điểm để xây dựng mô hình xóm bản văn hóa theo cuộc vận động xây dựng gia đình, làng bản văn hóa và ngày nay là cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”.
Dân số và địa bàn cư trú. Tộc ngƣời Sán Chay của xóm Xóm Đồng Tâm - xã Tức Tranh chiếm tỉ lệ cao 161 hộ/ 173 hộ (bằng 93%) với 657 nhân khẩu (Theo thống kê tháng 12 năm 2011). Diện tích đất tự nhiên: 342 ha đất tự nhiên, vùng địa hình phức tạp chủ yếu là những quả đồi ở mức thấp. Dân cƣ sống rải rác trừ các số hộ sống tập trung gần nhà văn hóa của xóm.
Phía Đông giáp với xóm Gốc Mít, Đồng Lƣờng. Phía Tây giáp với xã Yên Lạc, phía Bắc giáp với xóm Đồng Tiến và phía Nam giáp với xóm Quyết Tiến. Đồng Tâm là một xóm vùng sâu, vùng xa nằm cách trung tâm xã Tức Tranh 3km, cách trung tâm huyện lị Phú Lƣơng chừng 13 km nên đƣờng giao thông, đƣờng điện là một trong những vấn đề gặp nhiều khó khăn. Năm 2003, xóm Đồng Tâm mới có đƣờng điện cao thế.
Năm 2011, mới có đoạn đƣờng bê tông về gần đến trung tâm xóm với độ dài là 2,4km. Vì chủ yếu là dân tộc Sán Chay lại sinh sống ở một địa bàn không thuận lợi, điều kiện giao lƣu văn hóa không nhiều nên đồng bào nơi đây chủ yếu là hát làn điệu dân ca của dân tộc mình là chính. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn Chúng tôi đến xóm Đồng Tâm, xã Tức Tranh để tìm hiểu những nét văn hoá đặc sắc của ngƣời Sán Chay. Đồng chí Trần Văn Hải - Bí thƣ Chi bộ cho biết: Đồng Tâm có tới 93% dân số là ngƣời Sán Chay.
Ngày xƣa, ngƣời Sán Chay nói hai ngôn ngữ là tiếng Cao Lan thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Đai) và tiếng Sán Chỉ thuộc nhóm ngôn ngữ Hán (ngữ hệ Hán Tạng). Nhiều ngƣời già ở đây vẫn đọc và nói đƣợc tiếng Hán. Các cuốn sách về Hát ví Lƣu Tam và một số cuốn sách khác đều đƣợc viết bằng chữ Hán cổ. Số tài liệu này vẫn còn đƣợc lƣu giữ tại gia đình nghệ nhân Hầu Thanh Tĩnh là chủ yếu.
Nhƣng bây giờ, trong giao tiếp hàng ngày, đồng bào thƣờng nói với nhau tiếng mẹ đẻ nhƣ: “Hối na nẩy?” (Đi đâu?), “Chấu mật cọng à?” (Làm việc gì?), “Ăn cơm” ( Hạch phờn), “Uống nước” (Hạch sui), “Đi cấy lúa” (Hối Schap vui), “Đi chợ” ( Hối hôi)…. Quan hệ gia đình và quan hệ xã hội Cộng đồng của ngƣời Sán Chay có nhiều dòng họ nhƣ: họ Hoàng, họ Hầu, họ Trần, họ La, họ Lý, họ Nịnh…. mỗi họ chia thành nhiều ngành. Họ cho rằng số ngƣời trong mỗi ngành nhiều hay ít phụ thuộc vào thần đỡ đầu nhƣ Quan Âm, Ngọc Hoàng, Bạch Phạm, Mạng Văn, Nam Hỏa, Ôn Vƣơng,.
Trong tam giáo, các ngành khác nhau không chỉ về tên gọi mà còn khác cả lễ nghi, kiêng kỵ.