Tổng quan nghiên cứu

Theo số liệu từ Tổng điều tra dân số và nhà ở, cộng đồng dân tộc Sán Chay tại Việt Nam có 169.410 người, phân bố tập trung tại các tỉnh vùng Đông Bắc Bộ, trong đó tỉnh Thái Nguyên chiếm tỷ lệ 19,2% với 32.483 người. Đặc biệt, tại xóm Đồng Tâm thuộc xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, đồng bào Sán Chay chiếm tới 93% dân số (gồm 161 hộ trên tổng số 173 hộ với 657 nhân khẩu). Trong dòng chảy hiện đại hóa và giao thoa văn hóa, kho tàng di sản văn hóa phi vật thể của cộng đồng đang đứng trước nguy cơ mai một nghiêm trọng, đặc biệt là nghệ thuật diễn xướng dân ca cổ truyền.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam của tác giả Nguyễn Thị Mai Quyên tập trung giải quyết vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị của Hát ví Lưu Tam (còn gọi là Xình ca hay Sấng cọo) tại địa bàn xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa các dạng thức diễn xướng, phân tích giá trị tư tưởng, nội dung phản ánh và thi pháp nghệ thuật đặc trưng, đồng thời đánh giá thực trạng lưu truyền nhằm đề xuất các giải pháp bảo tồn có tính khả thi cao.

Phạm vi nghiên cứu được xác lập tại xã Tức Tranh trong giai đoạn điền dã từ năm 2011 đến năm 2013, khảo sát trực tiếp hệ thống tư liệu gồm 5 tập bài hát cổ truyền (với hơn 2.178 câu hát) do các nghệ nhân bản địa lưu giữ. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện rõ nét ở việc tư liệu hóa 100% các đêm hát còn lại tại địa phương, cung cấp nguồn dữ liệu khoa học chuẩn xác phục vụ công tác giảng dạy văn học dân tộc thiểu số và đóng góp thiết thực vào chiến lược bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết văn học dân gian (Folklore học) kết hợp với lý thuyết diễn xướng văn hóa dân gian để tiếp cận tác phẩm trong môi trường sinh hoạt cộng đồng nguyên hợp. Đồng thời, luận văn kết hợp lý thuyết nhân học văn hóa nhằm lý giải mối quan hệ tương hỗ giữa cấu trúc xã hội tộc người nông nghiệp lúa nước miền đồi núi với sự hình thành các thể loại dân ca.

Hệ thống khái niệm then chốt được xây dựng chặt chẽ trong công trình bao gồm:

  • Hát ví Lưu Tam: Loại hình dân ca trữ tình đối đáp độc đáo của người Sán Chay, sáng tác theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt hoặc lục bát, ghi chép bằng chữ Hán Nôm cổ và lưu truyền chủ yếu bằng phương thức truyền miệng.
  • Không gian diễn xướng: Môi trường sinh hoạt văn hóa thực tế, nơi lời ca gắn liền với đời sống hàng ngày, phong tục tập quán, lễ hội nông nghiệp và nghi lễ chu kỳ đời người.
  • Văn hóa tộc người Sán Chay: Bản sắc văn hóa độc đáo của cộng đồng gồm hai nhóm ngôn ngữ chính là Cao Lan (ngữ hệ Thái - Ka Đai) và Sán Chỉ (ngữ hệ Hán - Tạng).
  • Dạng thức dân ca: Các hình thái tồn tại của lời ca được phân định theo tiêu chí thời gian diễn xướng và chức năng sinh hoạt thực hành xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn xác lập quy trình nghiên cứu khoa học chặt chẽ với các thông số cụ thể:

  • Nguồn dữ liệu và cỡ mẫu: Khảo sát toàn bộ 2.178 câu hát trong 5 tập sách cổ viết bằng chữ Hán Nôm, 60 câu ví đọc trong tang lễ, cùng hệ thống ghi âm, ghi hình điền dã trực tiếp từ 10 nghệ nhân dân gian tiêu biểu tại địa phương.
  • Phương pháp chọn mẫu: Sử dụng phương pháp chọn mẫu mục đích (purposive sampling), tập trung vào các nghệ nhân cao tuổi nắm giữ tài liệu Hán Nôm gốc và những người trực tiếp thực hành diễn xướng tại Câu lạc bộ Bảo tồn văn hóa Sán Chay xã Tức Tranh (thành lập từ năm 2005).
  • Phương pháp phân tích và lý do lựa chọn: Kết hợp phương pháp điền dã dân tộc học (phỏng vấn sâu, quan sát tham dự), phương pháp văn bản học (phiên âm, dịch nghĩa, khảo dị), phương pháp thống kê - phân loại và phương pháp phân tích thi pháp học liên ngành. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này xuất phát từ đặc thù văn bản dân ca Sán Chay vốn tồn tại dưới dạng chữ Hán Nôm cổ và thực hành khẩu truyền, đòi hỏi phải xác minh chuẩn xác ngữ nghĩa văn bản trước khi phân tích cấu trúc nghệ thuật và giá trị tư tưởng trong không gian văn hóa bản địa.
  • Timeline nghiên cứu: Quá trình khảo sát thực địa, sưu tầm văn bản, phiên dịch và phân tích chuyên sâu được thực hiện liên tục từ tháng 12 năm 2011 đến tháng 5 năm 2013.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, luận văn đã phân loại và hệ thống hóa toàn diện các dạng thức Hát ví Lưu Tam theo tiêu chí thời gian. Hệ thống diễn xướng ban đêm vốn có quy mô nguyên bản gồm 12 tập tương ứng 12 đêm hát, hiện tại địa bàn xã Tức Tranh chỉ còn lưu giữ trọn vẹn 5 đêm hát với tổng số 2.178 câu thơ. Số lượng câu hát có sự phân bổ giảm dần theo từng đêm nhằm đảm bảo nguyên tắc không trùng lặp lời ca:

  • Đêm hát thứ nhất: 720 câu (chiếm 33,06% tổng số lượng), nội dung chúc tụng gia đình, bản làng và đối đáp giao duyên mở đầu.
  • Đêm hát thứ hai: 520 câu (chiếm 23,87%), chủ đề ca ngợi thiên nhiên, mùa màng và quê hương.
  • Đêm hát thứ ba: 403 câu (chiếm 18,50%), tập trung vào bốn mùa, canh tác nương rẫy, săn bắn và mùa vụ.
  • Đêm hát thứ tư: 287 câu (chiếm 13,18%), phản ánh mối quan hệ xóm làng và tình cảm đạo lý con người.
  • Đêm hát thứ năm: 248 câu (chiếm 11,39%), nghi thức mời trầu và giao duyên lứa đôi thâu đêm.

Thứ hai, công trình làm rõ cấu trúc 4 dạng thức nghi lễ - phong tục trọng tâm theo tiêu chí nội dung:

  • Nông lễ: Tích hợp trong bài cúng Lễ cầu mùa tổ chức ngày 2 tháng 2 âm lịch tại ngôi đình cổ 24 cột lim, dâng 9 mâm lễ vật tạ ơn thần linh và cầu mong mùa màng bội thu.
  • Hôn lễ (Pa lang cọ): Gồm hệ thống hát chắn cửa (Lan Mun) với yêu cầu nhà trai phải đối đáp thắng ít nhất 4 bài hát mới được vào nhà, tiếp nối bằng các bài ca chúc mừng (Cọ mưng đám chau) và dặn dò cô dâu chú rể.
  • Tang lễ (Pạt san cọ): Gồm 60 câu thơ phân bổ theo thể 2 câu một bài, dùng để xem hướng mộ và dẫn đường linh hồn về cõi vĩnh hằng.
  • Mừng nhà mới (Phồng cọ): Hát liên tục suốt 5 canh giờ từ tối đến sáng để cầu chúc gia chủ phúc lộc, con đàn cháu đống.

Thứ ba, nghiên cứu chứng minh 100% văn bản Hát ví Lưu Tam cổ được xây dựng theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt (mỗi bài 4 câu, mỗi câu 7 chữ), sử dụng cách gieo vần chân linh hoạt, ngắt nhịp 4/3 hoặc 2/2/3, kết hợp nhuần nhuyễn các biện pháp nghệ thuật tu từ như so sánh, ẩn dụ, nhân hóa gắn liền với hình tượng thiên nhiên đồi núi.

Thảo luận kết quả

Sự sụt giảm từ 12 đêm hát cổ truyền xuống còn 5 đêm hát lưu giữ trong thực tế phản ánh quá trình mai một tư liệu Hán Nôm và sự thay đổi phương thức sinh hoạt của người dân. Nguyên nhân chủ yếu do tỷ lệ người biết đọc và dịch chữ Hán Nôm cổ tại địa phương hiện còn dưới 5%, chủ yếu là các nghệ nhân trên 70 tuổi. Khi đối sánh với các công trình nghiên cứu Xình ca Cao Lan tại tỉnh Tuyên Quang (sưu tầm 266 khúc ca đêm thứ nhất) và dân ca Sán Chí tại Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang (với 1.058 bài dân ca), di sản Hát ví Lưu Tam tại Tức Tranh thể hiện tính nguyên hợp và tính quy phạm cấu trúc cao hơn, duy trì một chuỗi đối đáp hoàn chỉnh kéo dài 12 tiếng liên tục (từ 19 giờ tối hôm trước đến 7 giờ sáng hôm sau).

Để trực quan hóa các phát hiện nghiên cứu, cấu trúc dữ liệu có thể được thể hiện qua biểu đồ phân bố độ dài 5 đêm hát (từ 720 câu ở đêm 1 xuống 248 câu ở đêm 5) và bảng đối chiếu chức năng của 4 nhóm bài ca nghi lễ. Kết quả nghiên cứu khẳng định Hát ví Lưu Tam không chỉ là một hình thức nghệ thuật ngôn từ mà còn là thiết chế văn hóa cố kết cộng đồng, phản ánh trung thực thế giới quan, nhân sinh quan và đạo đức ứng xử của người Sán Chay.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo sát thực trạng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao nhằm bảo tồn bền vững di sản:

  1. Số hóa và biên dịch toàn diện văn bản Hán Nôm: Tiến hành chụp quét số hóa 100% hệ thống sách hát cổ, phiên âm chữ Hán sang chữ Quốc ngữ và dịch thơ toàn bộ 2.178 câu hát. Mục tiêu hoàn thành trong vòng 12 tháng, do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên phối hợp với các chuyên gia Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên thực hiện.

  2. Mở rộng mô hình câu lạc bộ và truyền dạy thực hành: Nhân rộng mô hình Câu lạc bộ Bảo tồn văn hóa Sán Chay từ 1 điểm tại xóm Đồng Tâm lên 5 câu lạc bộ tại các xóm lân cận trong xã Tức Tranh giai đoạn 24 tháng. Đặt chỉ tiêu đào tạo ít nhất 50 thanh thiếu niên nắm vững kỹ năng hát ví cơ bản và tham gia biểu diễn, do Ủy ban nhân dân xã Tức Tranh và Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Phú Lương điều hành.

  3. Tích hợp giáo dục di sản vào trường học địa phương: Xây dựng chương trình giảng dạy ngoại khóa về dân ca các dân tộc thiểu số với thời lượng tối thiểu 10 tiết mỗi năm học tại 100% các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Lương. Kế hoạch triển khai định kỳ hàng năm dưới sự chỉ đạo của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Phú Lương.

  4. Phát triển sản phẩm du lịch văn hóa trải nghiệm: Xây dựng 2 tour du lịch cộng đồng gắn trải nghiệm diễn xướng Hát ví Lưu Tam và điệu múa Tắc Xình với không gian văn hóa Lễ hội Cầu mùa ngày 2 tháng 2 âm lịch và làng nghề chè đặc sản Tức Tranh. Dự án thực hiện trong 18 tháng, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ hộ gia đình tham gia dịch vụ du lịch văn hóa đạt 80%, do Trung tâm Xúc tiến Du lịch tỉnh Thái Nguyên phối hợp cùng chính quyền địa phương triển khai.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chuyên môn:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Ngữ văn, Văn hóa học, Dân tộc học: Cung cấp nguồn tư liệu thực địa chuẩn xác với 2.178 câu hát song ngữ Hán - Việt, làm tài liệu tham khảo chuyên sâu cho các chuyên đề Văn học dân gian các dân tộc thiểu số, Văn học so sánh và Nghệ thuật diễn xướng dân gian.
  • Cán bộ quản lý văn hóa và cơ quan hoạch định chính sách cấp tỉnh, huyện: Sử dụng kết quả nghiên cứu làm cơ sở khoa học để lập hồ sơ khoa học đề nghị ghi danh Hát ví Lưu Tam vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, đồng thời hoạch định chính sách bảo tồn cho hơn 32.483 người Sán Chay trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
  • Nghệ nhân dân gian và ban chủ nhiệm các câu lạc bộ văn hóa truyền thống: Sử dụng tập tư liệu làm cẩm nang chuẩn mực để đối chiếu, phục hồi các làn điệu cổ truyền, thống nhất lời ca trong các đêm hát giao duyên và bài ca nghi lễ phong tục tại 24 xóm của xã Tức Tranh.
  • Doanh nghiệp lữ hành và nhà phát triển du lịch cộng đồng: Khai thác kho tàng văn nghệ dân gian đặc sắc, các nghi thức cưới hỏi, lễ hội cầu mùa để xây dựng kịch bản trải nghiệm văn hóa bản địa độc đáo cho du khách trong và ngoài nước.

Câu hỏi thường gặp

Hát ví Lưu Tam của dân tộc Sán Chay có nguồn gốc lịch sử từ đâu? Theo truyền thuyết dân gian lưu truyền qua nhiều đời, Hát ví Lưu Tam bắt nguồn từ câu chuyện về nàng Lưu Tam (hay Làu Slam) - người con gái tài sắc vẹn toàn, được tôn xưng là Bà chúa thơ ca. Đồng bào Sán Chay tin rằng các bài ca do nàng sáng tạo ra có sức truyền cảm mãnh liệt, do đó trước mỗi canh hát cổ truyền, người hát đều cất lời mời anh linh nàng về chứng giám.

Cấu trúc một cuộc Hát ví Lưu Tam ban đêm diễn ra như thế nào? Một cuộc hát ban đêm theo phong tục cổ xưa gồm 12 tập tương ứng 12 đêm hát, hiện tại Tức Tranh lưu giữ trọn vẹn 5 đêm hát với 2.178 câu thơ. Canh hát diễn ra liên tục từ 19 giờ tối hôm trước đến 7 giờ sáng hôm sau bên bếp lửa nhà sàn, người hát tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc đối đáp không được lặp lại câu từ của các đêm trước.

Sự khác biệt cốt lõi giữa Hát ví Lưu Tam ban ngày và ban đêm là gì? Hát ban ngày chủ yếu diễn ra ngoài trời tại nương rẫy, hội xuân hoặc đám tang (như 60 câu ví tang lễ Pạt san cọ), mang tính chất ứng khẩu linh hoạt theo không gian lao động. Ngược lại, hát ban đêm diễn ra trong không gian ấm cúng của nếp nhà sàn, bắt buộc phải tuân theo văn bản bài bản ghi chép trong sách hát cổ và mang tính đối đáp giao duyên nghi lễ trang trọng.

Văn bản Hát ví Lưu Tam được ghi chép và lưu truyền bằng loại chữ viết nào? Toàn bộ lời ca Hát ví Lưu Tam cổ truyền được các nghệ nhân ghi chép bằng chữ Hán Nôm cổ trên giấy bản truyền thống. Mỗi bài hát là một bài thơ tứ tuyệt gồm 4 câu, mỗi câu đúng 7 chữ. Bên cạnh đó, các bài hát được chuyển tải qua tiếng nói mẹ đẻ của hai nhóm ngôn ngữ Cao Lan và Sán Chỉ kết hợp với phương thức truyền khẩu qua nhiều thế hệ.

Hình ảnh người phụ nữ Sán Chay được phản ánh như thế nào trong các làn điệu ví? Lời ca Hát ví phản ánh chân thực số phận và vẻ đẹp của người phụ nữ. Một mặt, các bài ca thể hiện sự phản kháng lễ giáo phong kiến gả ép qua hình tượng nàng Lưu Tam chịu 3 năm thử thách bên nhà chồng. Mặt khác, lời ca ca ngợi đức tính thủy chung, nét đoan trang và sự thông tuệ của cô gái qua hình ảnh ẩn dụ cây cải nở 18 lá thanh khiết.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện 2 dạng thức Hát ví Lưu Tam (theo thời gian ngày/đêm và theo 4 nhóm nghi lễ phong tục trọng tâm).
  • Công trình bảo tồn và văn bản hóa 5 đêm hát cổ truyền với tổng số 2.178 câu thơ thất ngôn tứ tuyệt ghi chép bằng chữ Hán Nôm.
  • Nghiên cứu làm sáng tỏ mối liên kết hữu cơ giữa môi trường diễn xướng dân ca với đời sống của cộng đồng chiếm 93% dân số tại xóm Đồng Tâm.
  • Luận văn khẳng định các giá trị thẩm mỹ, nhân văn và chuẩn mực đạo đức sâu sắc được lưu giữ qua từng bài ca giao duyên, nông lễ và hôn lễ.
  • Đề tài xác lập hệ thống 4 giải pháp đồng bộ kết hợp giữa lưu trữ văn bản học, truyền dạy cộng đồng và phát triển du lịch bền vững.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp cái nhìn toàn diện, có hệ thống đầu tiên về Hát ví Lưu Tam tại Tức Tranh, mở ra hướng tiếp cận liên ngành giữa văn học và văn hóa học dân tộc thiểu số. Kế hoạch tiếp theo cần tập trung số hóa và xuất bản trọn bộ tư liệu song ngữ trong giai đoạn 2024-2026. Hãy cùng chung tay tìm hiểu, bảo tồn và lan tỏa những giá trị văn hóa phi vật thể quý báu của đồng bào Sán Chay ngay hôm nay!