mở đầu bằng ngày Tết cổ truyền dân tộc rồi tiếp theo là các lễ hội khác với các sinh hoạt dân gian gắn với thời kỳ nông nhàn sau mùa vụ. Người ta căn cứ vào nội dung phản ánh của lễ hội để phân biệt lễ hội nông nghiệp, lễ hội tưởng niệm các anh hùng lịch sử, lễ hội gắn với các tôn giáo tín ngưỡng…Trong đó có các lễ hội đặc sắc như: Lễ hội Phù Đổng, lễ hội Cổ Loa, lễ hội Chùa Hương, hội Lim, hội Phủ Giày… Những sắc thái văn hóa còn thể hiện rõ qua các hình thức sinh hoạt văn hóa nghệ thuật khác. Đó là văn học, nghệ thuật, sân khấu, kiến trúc… Nền Nguyễn Thị Hoài Thu – VHH 2A 21 văn học dân gian phong phú với các thể loại: truyền thuyết, cổ tích, tục ngữ, ca dao… Nghệ thuật truyền thống của cư dân châu thổ sông Hồng được đúc kết từ chính trong đời sống lao động. Tại mỗi miền quê đều có những đặc trưng riêng.
Châu thổ sông Hồng là cái nôi của các loại hình dân ca, các hình thức sân khấu cổ truyền đó là: Hát ru, hát trống quân, hát xẩm, hát quan họ, ca trù, hát chầu văn, hát cửa đình, hát ví… các hình thức sân khấu như chèo, tuồng, rối nước… Các công trình kiến trúc cổ kính vẫn còn được gìn giữ, bảo lưu và mang nhiều giá trị như nhiều điêu khắc cổ như trống đồng, tượng đồng, các loại đồ thờ…Bên cạnh đó, nguồn sản vật phong phú, con người lại khéo léo, giỏi nấu nướng, sành sỏi trong việc lựa chọn thực phẩm, giỏi chế biến, nhất là người Hà Nội. Chẳng thế mà người ta thường nói: “ Ăn Bắc, mặc Kinh”. Tóm lại, nền văn hóa châu thổ sông Hồng rất phong phú, đa dạng trong cả đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần. Có thể nói, nơi đây là tấm gương phản ánh đầy đủ và rõ nét nhất các mối quan hệ ( mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, mối quan hệ giữa người với người).
Đây là một vùng văn hóa đặc thù của cả nước, nó tồn tại trong truyền thuyết, thơ ca, trong các phong tục tập quan và cả trong tiềm thức của mỗi người. Môi trường hình thành Hát ru 1. Khái niệm Hát ru Có nhiều khái niệm, định nghĩa được đưa ra. Với mỗi nhà nghiên cứu họ lại nhìn nhận dưới một góc độ khác nhau.
Nhưng tựu chung lại, dù là khái niệm, định nghĩa nào thì cái bản chất, cái đặc điểm cơ bản vẫn là như nhau. Wikipedia đưa ra định nghĩa về Hát ru như sau: “Từ lâu, những người nuôi trẻ nhỏ khắp trên thế giới đã biết dỗ chúng ngủ bằng cách hát ru con. Hát ru là những bài hát nhẹ nhàng đơn giản giúp trẻ con ngủ. Phần lớn các câu Nguyễn Thị Hoài Thu – VHH 2A 22 trong bài hát ru con lấy từ ca dao, đồng dao, hay trích từ các loại thơ hoặc hò dân gian được truyền miệng từ bà xuống mẹ, thế hệ trước sang thế hệ sau.
Do đó, những bài hát này rất đa dạng, mang tính chất địa phương, gần như mỗi gia đình có một cách hát riêng biệt.Trong hát ru thường chỉ chú ý đến lời (ca từ) còn giai điệu (nhạc lý) thì mỗi bà mẹ có một giọng trữ tình riêng nhưng vẫn gây ấn tượng sâu sắc trong suốt cả cuộc đời người con.” Đây là một trong những khái niệm khái quát đầy đủ nhất về hát ru. Trong cuốn “ Dân ca Việt Nam những thành tố của chỉnh thể nguyên hợp” tác giả Lê Văn Chưởng có viết: “ Ru là lối diễn xướng phổ nhạc vào trong những bài thơ theo thang âm ngũ cung, chủ yếu là thơ dân gian với những thể lục bát, lục bát biến thể…để đưa trẻ vào giấc ngủ. Ru cũng là một lối hát nên trong dân gian nhất là miền Bắc gọi là Hát ru, ở Bình Trị Thiên gọi là Hò ru bởi vì nơi đây ru theo làn điệu hò. Thường thì mẹ ru con nhưng có khi bà ru cháu, chị ru em… chủ yếu là mẹ ru con ngủ, nhưng ru cũng là cách để mẹ giãi bày tâm sự, ru cảnh ngộ của mình” [5,tr.
Theo tác giả Nguyễn Hữu Thu trong cuốn “ Mẹ hát ru con”: “ Hát ru hay còn gọi là Hát ru em, ở các vùng thôn quê Việt Nam, trong những gia đình nghèo, cha mẹ thường phải làm lụng suốt ngày kiếm ăn, con cháu của họ vào lứa tuổi niên thiếu ở nhà phải trông em và ru em ngủ. Vì thế còn gọi là Hát ru em hoặc Hát đưa em. Vùng Tĩnh Gia (Thanh Hóa) gọi hát ru con là Hát khúc. Nghệ tĩnh gọi Hát ru con là hát Nựng con.
Hát nựng có nghĩa là hát yêu con rỡn con lúc bế trên tay khi đứa trẻ chưa ngủ và để hướng nó vào giấc ngủ” [11, tr. Trong cuốn “Tìm hiểu dân ca Việt Nam” của Phạm Phúc Minh đã viết: “ Hát ru còn gọi là hát ru con hoặc ru em là một lối hát theo tập quán truyền thống và rất phổ biến ở các vùng, các dân tộc ở trên khắp mọi miền đất nước. Tuy mỗi vùng, mỗi dân tộc đều có điệu hát ru được gọi bằng các tên gọi khác Nguyễn Thị Hoài Thu – VHH 2A 23 nhau và âm nhạc cũng mang màu sắc riêng, nhưng có những điểm chung như: giai điệu êm dịu, du dương, trìu mến, tiết tấu đều đặn nhịp nhàng; lời ca giàu hình tượng, dào dạt tình thương yêu tha thiết đối với em thơ, tất cả những yếu tố đó đã như đôi cánh nhẹ nhàng đưa em bé vào giấc ngủ yên lành. Đối với những người lớn, hoặc thanh thiếu niên khi nghe hát ru ít nhiều đều được vỗ về, sưởi ấm bằng những tình cảm trìu mến của thời bé thơ, đều có những cảm giác gợi nhớ những ký ức xa xưa, những tình cảm thương yêu thắm thiết cao đẹp của những người thân trong gia đình” [6, tr.
Theo Vũ Ngọc Phan đã viết trong cuốn “Hát ru Việt Nam” của Lê Giang và Lư Nhất Vũ: “ Hát ru được phổ biến khắp trong nước, mỗi miền hát một cách khác nhau, nhưng có chung một phong thái là đều ngân nga, êm dịu. Nội dung những bài hát ru em rất phong phú, có thể là những cảnh vật xinh xinh, những ý nghĩ thơ ngây phù hợp với tuổi nhỏ, nó cũng có thể là những tình cảm thắm thiết của người phụ nữ biểu lộ trong bài ca, phù hợp với tâm tình người hát, nó cũng có thể là những tư tưởng đả kích giai cấp phong kiến. Hát ru em đều là những bài ca dao sẵn có, người hát tự thêm những tiếng đệm, tiếng láy và tiếng đưa hơi, tùy theo từng điệu hát đưa em của mỗi miền. Hát ru em thường là lục bát thông thường hay lục bát biến thể” [13,tr.
Trong mỗi người, ai mà không ít nhất đôi lần được nghe hát ru, được biết đến hát ru. Thế nhưng, hầu hết đều chỉ hiểu một cách nôm na, Hát ru là để dỗ trẻ vào giấc ngủ ngon lành, nghe hát ru trẻ như đi vào giấc ngủ êm đềm và dễ dàng hơn. Đó là một cách hát nhẹ nhàng mà đi sâu vào lòng người. Nói về khái niệm của Hát ru mỗi cá nhân sẽ hiểu theo những cách khác nhau, nhưng với cá nhân tôi, hiểu một cách đơn giản nhất Hát ru là những bài hát nhẹ nhàng, đơn giản mà sâu lắng.
Thường có mục đích dỗ cho trẻ con ngủ. Phần lớn các câu trong bài hát ru được lấy từ ca dao, đồng dao…Một trong Nguyễn Thị Hoài Thu – VHH 2A 24 những đặc trưng của hát ru vùng châu thổ sông Hồng là tiếng đưa hơi “à ơi”…và được truyền miệng từ bà sang mẹ, từ thế hệ trước sang thế hệ sau. Có thể nói Hát ru, đặc biệt là Hát ru ở vùng châu thổ sông Hồng là một hình thức hát dân gian khá phổ biến, một tập quán tốt đẹp. Hát ru là những câu hát của bà, của mẹ, của chị và những người thân trong gia đình để dỗ đứa trẻ vào giấc ngủ.
Ngoài ra, có thể nói nếu sữa mẹ nuôi lớn phần xác thì hát ru nuôi lớn phần hồn. Nói cách khác, Hát ru chính là bầu sữa thứ hai- cao cả và thiêng liêng vô cùng. Không chỉ vậy, ẩn chứa trong mỗi câu hát ru còn là tâm tình và nỗi lòng của mẹ, là những tâm sự khó nói, là những lời giãi bày thậm chí là than thân trách phận… Khác với Hát ru châu thổ sông Hồng, người Nam Bộ gọi Hát ru là Hát ầu ơ hay đưa em. Ầu ơ là tiếng nựng dỗ mô phỏng từ cách tập phát âm của trẻ nhỏ khi bắt đầu biết hóng chuyện, sau đó được âm nhạc hóa dùng là câu hát mở đầu, đưa đà cho câu hát ru và được ghép lại bởi các nguyên âm: à, u, ơ… Người dân châu thổ sông Hồng khi nựng con thường có những tiếng tặc lưỡi để thu hút sự chú ý của trẻ, để hỏi chuyện hoặc nói yêu, có nghĩa biểu hiện cử chỉ tình cảm yêu thương đối với trẻ thơ và sau phát triển thành những tiếng đưa hơi, đệm lời, thêu dệt cho câu hát thêm hay thêm đẹp.
Hầu hết dân tộc nào cũng đều có hát ru con và không một nơi nào có âm điệu giống nhau bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, hoàn cảnh lịch sử, văn hóa dân tộc là không giống nhau. Môi trường hình thành Hát ru Cho đến nay vẫn chưa biết chính xác Hát ru có từ bao giờ và bắt ngồn từ đâu. Chỉ biết rằng, mỗi em bé cất tiếng khóc chào đời đã được thưởng thức những câu hát ru mượt mà của bà, của mẹ. Hát ru được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, ăn sâu vào tâm hồn người Việt.
Giữa trưa hè oi ả hay những Nguyễn Thị Hoài Thu – VHH 2A 25 đêm đông lạnh giá, lời ru của bà, của mẹ cất lên lúc thì như một làn gió mát dịu, khi lại như ngọn lửa ấm nồng đưa bé chìm sâu vào giấc ngủ. Trong lời ru có cánh cò bay, có cái bống chịu thương chịu khó giúp mẹ việc nhà, có con cún con hay nô đùa với bé…tất cả cuộc sống thường nhật đều được tái hiện trong từng câu hát ru. Hát ru có nguồn gốc lịch sử lâu đời. Từ thời này qua thời khác, từ miền ngược đến miền xuôi, không nơi nào không có tiếng mẹ ru con ngủ.
Tiếng hát ru không thể thiếu được trên cánh võng, bên vành nôi đong đưa, trên đôi tay trìu mến của mẹ. Mỗi dân tộc có một làn điệu hát ru của riêng mình. Nhưng dù thuộc dân tộc nào, con người đều lớn lên trong tiếng hát ru dịu ngọt của mẹ hiền.