Luận văn: Phân tích hành động hỏi của nhân vật nữ trong truyện ngắn sau 1975

Luận văn nghiên cứu hành động hỏi của nhân vật nữ trong truyện ngắn sau 1975, phân tích biểu thức ngữ vi và chiến lược giao tiếp qua lời thoại.

Trường đại học

Trường Đại Học Vinh

Chuyên ngành

Ngữ Văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2009

120
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm về hành động hỏi của nhân vật nữ trong truyện ngắn sau 1975

Hành động hỏi là một hiện tượng ngôn ngữ phổ quát và phức tạp trong giao tiếp của con người. Trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975, hành động hỏi của nhân vật nữ không chỉ đơn thuần là tìm kiếm thông tin mà còn thể hiện những đặc trưng văn hóa, tâm lý và giới tính sâu sắc. Lời thoại nhân vật nữ qua các câu hỏi phản ánh vai trò xã hội, mối quan hệ nhân vật và chiến lược giao tiếp của phụ nữ trong thời kỳ lịch sử đặc biệt này. Nghiên cứu biểu thức ngữ vi thể hiện hành động hỏi giúp chúng ta hiểu sâu hơn về cách sử dụng ngôn ngữ giới tính và những nét ứng xử của nhân vật nữ qua từng tác phẩm.

1.1. Định nghĩa hành động hỏi và hành động ngôn ngữ

Hành động hỏi được coi là một hành động ngôn ngữ quan trọng, không chỉ mang mục đích lấy thông tin mà còn thể hiện ý định giao tiếp của người nói. Trong ngôn ngữ học, hành động ngôn ngữ bao gồm những phát ngôn có chức năng và ý đồ riêng biệt. Nhân vật nữ trong truyện ngắn sử dụng câu hỏi để thể hiện cảm xúc, kiểm soát tình huống hoặc thể hiện vai trò xã hội của mình.

1.2. Vai trò của giới tính trong hành động hỏi

Giới tính có ảnh hưởng sâu sắc đến cách thức nhân vật nữ thực hiện hành động hỏi. Ngôn ngữ giới tính phản ánh những khác biệt trong cách sử dụng từ xưng hô, cách diễn đạt và chiến lược giao tiếp. Trong truyện ngắn sau 1975, biểu thức hỏi của phụ nữ thường mang tính lịch sự, gián tiếp hơn và chứa đựng những nội dung sâu sắc về tâm lý.

II. Vai xã hội và cách sử dụng từ xưng hô trong hành động hỏi

Vai xã hội của nhân vật nữ được thể hiện rõ nét qua cách sử dụng từ xưng hô trong hành động hỏi. Mỗi vai trò như mẹ, vợ, cô giáo hay nhân vật độc lập có những cách hỏi riêng biệt. Lời thoại nhân vật nữ trong truyện ngắn sau 1975 cho thấy sự biến đổi trong nhận thức về vai trò phụ nữ. Từ xưng hô mà nhân vật lựa chọn không chỉ phản ánh mối quan hệ với người được hỏi mà còn thể hiện vị trí xã hội và tự nhận thức của nhân vật nữ về bản thân.

2.1. Phân loại vai xã hội của nhân vật nữ

Nhân vật nữ trong truyện ngắn có thể được phân loại theo các vai xã hội khác nhau: vai trò gia đình, vai trò lao động, vai trò cộng đồng. Mỗi vai trò đòi hỏi chiến lược giao tiếphành động hỏi khác nhau. Biểu thức ngôn ngữ phản ánh rõ ràng sự khác biệt này, từ những câu hỏi ân cần, che chở trong gia đình đến những câu hỏi tự tin, kiên quyết trong lao động.

2.2. Ảnh hưởng của từ xưng hô đến hiệu quả giao tiếp

Từ xưng hô được nhân vật nữ lựa chọn trong hành động hỏi có tác động trực tiếp đến hiệu quả giao tiếp. Lời thoại sử dụng từ xưng hô tôn trọng, thân thiện thường giúp nhân vật nữ đạt được mục đích giao tiếp tốt hơn. Trong truyện ngắn sau 1975, sự lựa chọn từ xưng hô phản ánh mức độ giáo dục, tuổi tác và vị trí xã hội của nhân vật.

III. Nội dung và chiến lược giao tiếp của hành động hỏi

Nội dung hành động hỏi của nhân vật nữ trong truyện ngắn rất đa dạng, từ những câu hỏi về sự kiện cụ thể đến những câu hỏi mang tính triết học. Chiến lược giao tiếp được nhân vật nữ sử dụng thể hiện khéo léo, thường ẩn chứa những ý đồ sâu sắc. Biểu thức ngữ vi qua câu hỏi có thể mang mục đích tìm hiểu, kiểm soát, thử thách hoặc thể hiện quan tâm. Lời thoại nhân vật cho thấy sự tinh tế trong cách nhân vật nữ xây dựng và triển khai các câu hỏi để đạt được mục đích giao tiếp của mình.

3.1. Phân loại nội dung hành động hỏi

Hành động hỏi của nhân vật nữ có thể được phân loại theo nội dung: câu hỏi về sự kiện, câu hỏi về cảm xúc, câu hỏi về ý kiến và câu hỏi tượng trưng. Lời thoại trong truyện ngắn thường kết hợp nhiều loại câu hỏi để tạo nên chiến lược giao tiếp hoàn chỉnh. Biểu thức mỗi loại câu hỏi có đặc điểm riêng về cấu trúc và tính chất.

3.2. Chiến lược giao tiếp tinh tế của nhân vật nữ

Nhân vật nữ trong truyện ngắn sau 1975 thường sử dụng hành động hỏi như một chiến lược giao tiếp tinh tế để giải quyết xung đột, thể hiện lo lắng hay khẳng định vị trí của mình. Câu hỏi gián tiếp, câu hỏi ám chỉ là những biểu thức phổ biến trong lời thoại nhân vật nữ để tránh xung đột trực tiếp nhưng vẫn đạt mục đích.

IV. Ý nghĩa khoa học và ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu hành động hỏi của nhân vật nữ trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 có ý nghĩa khoa học quan trọng cho ngôn ngữ học và phê bình văn học. Biểu thức ngữ vi thể hiện hành động hỏi cung cấp cơ sở lý thuyết vững chắc cho việc giảng dạy về hành động ngôn ngữ và giới tính trong ngôn ngữ. Lời thoại nhân vật nữ qua câu hỏi không chỉ giúp chúng ta hiểu sâu hơn về các tác phẩm văn học mà còn phản ánh những biến đổi xã hội về vị trí và vai trò của phụ nữ. Chiến lược giao tiếp trong hành động hỏi có thể được áp dụng để cải thiện kỹ năng giao tiếp, viết lách và phân tích văn học.

4.1. Đóng góp cho ngôn ngữ học hiện đại

Nghiên cứu về hành động hỏi bổ sung lý thuyết hành động ngôn ngữngôn ngữ giới tính. Biểu thức trong lời thoại nhân vật nữ cung cấp dữ liệu thực tế cho việc xây dựng mô hình ngôn ngữ học. Sự phân tích chi tiết hành động hỏi từ corpus truyện ngắn giúp làm sáng tỏ các hiện tượng ngôn ngữ phức tạp mà những lý thuyết trước đó chưa giải thích đầy đủ.

4.2. Ứng dụng trong giảng dạy và phê bình văn học

Lời thoại nhân vật qua câu hỏi là công cụ hiệu quả để phân tích nhân vật trong truyện ngắn. Chiến lược giao tiếptừ xưng hô giúp học sinh, sinh viên hiểu sâu hơn về cách tác giả xây dựng nhân vật. Hành động hỏi cũng là chỉ số quan trọng để đánh giá sự phát triển nhân vật và chủ đề của tác phẩm trong truyện ngắn sau 1975.

22/12/2025
Biểu thức ngữ vi thể hiện hành động hỏi của nhân vật nữ trong truyện ngắn sau 1975 trên cứ liệu lời thoại nhân vật trong truyện ngắn sau 1975

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề này trong mối liên hệ với các yếu tố xã hội khác nhƣ: quyền thế, khoảng cách, nghề nghiệp, tuổi tác, nhận thức, văn hoá vùng miền,… đây là một hƣớng nghiên cứu còn mới mẻ, giúp chúng tôi rút ra đƣợc những nhận xét, đánh giá mức độ, cách thức hành vi hỏi của nhân vật nữ trong truyện ngắn sau 1975. Từ đó làm cơ sở để đi vào lí giải đặc trƣng về vai xã hội, cách sử dụng từ xƣng hô, nội dung cũng nhƣ chiến lƣợc giao tiếp của các tuyến nhân vật nữ trong truyện ngắn của các tác giả trẻ sau 1975. Nguyên tắc hội thoại a. Nguyên tắc cộng tác hội thoại Theo P.Grice, nguyên tắc cộng tác trong hội thoại làm cho “cuộc hội thoại đúng như mục đích hay phương hướng mà cuộc hội thoại đòi hỏi” [7, tr.

Nguyên tắc cộng tác này có hiệu quả đặc biệt với cả ngƣời nói và ngƣời nghe. Khi nói, tham thoại phải quan sát và thực hiện nguyên tắc cộng tác rheo phƣơng châm nhất định. Nguyên tắc cộng tác có vai trò trung tâm trong lý thuyết hội thoại. Hai bên tham gia giao tiếp cùng cố gắng để đối tác của mình hƣởng ứng, phát triển cuộc thoại.

Nguyên tắc này gồm các phƣơng châm: lƣợng, chất, cách thức và quan hệ. Tuy nhiên, thực tế giao tiếp đã nảy sinh những tình huống vi phạm nguyên tắc cộng tác hội thoại do sự khác biệt trình độ, về văn hóa, về kinh nghiệm ngôn ngữ và vốn hiểu biết cuộc sống dù một bên tham gia cuộc thoại vẫn cố gắng tuân theo nguyên tắc cộng tác. Chúng ta phải căn cứ vào ngữ cảnh, gắn phát ngôn với hoàn cảnh giao tiếp và mối quan hệ liên nhân để nhận rõ những vi phạm nguyên tắc cộng tác. Trong hội thoại, những nền văn hóa khác nhau quy ƣớc những nghi thức giao tiếp khác nhau.

Nói khác đi, nguyên tắc cộng tác thay đổi theo chiều sâu văn hóa của từng cộng đồng ngôn ngữ. Khi bắt đầu nói chuyện, phần lớn những ngƣời tham thoại đều cho rằng họ đang đảm nhận nhiệm vụ duy trì cuộc thoại. Bởi vậy, nếu họ không muốn tiếp tục cuộc thoại, họ sẽ phải tìm cách thực hiện điều đó một cách lịch thiệp. Ngay cả khi muốn thực hiện hành động hỏi với những ngƣời lần đầu tiên nói chuyện, ngƣời hỏi cũng phải đƣa ra những lời nói mang tính nghi thức trong giao tiếp nhƣ: xin lỗi, làm ơn, tôi hỏi khí không phải, tôi hỏi khí vô phép, cảm phiền… b.

Nguyên tắc lịch sự Có thể xem xét lịch sự nhƣ là một khái niệm cố định, nhƣ trong khái niệm hành vi xã hội lịch sự “hay nghi thức xã giao, bên trong một nền văn hóa” [38, tr. Có rất nhiều nhà ngôn ngữ nhƣ P.Wierzbicka nghiên cứu về lĩnh vực lịch sự và lịch sự đã trở thành mối quan tâm lớn của dụng học. Lịch sự trong giao tiếp bằng ngôn từ thể hiện rõ nhất trong các cuộc hội thoại quy thức (formal) và cuộc thoại phi quy thức (informal). Muốn cuộc thoại thành công mỗi bên tham thoại cần tuân thủ không chỉ nguyên tắc cộng tác (cooperativeb principle) đã trình bày, mà còn phải tuân thủ nguyên tắc lịch sự (principle of politeness).

Những nguyên tắc này có tác động tới cuộc hội thoại, làm rõ hàm ý mà ngƣời nói thể hiện trong mỗi lƣợt lời với hình thức ngôn từ và cấu trúc phát ngôn trong tình huống giao tiếp cụ thể. Để xem xét vấn đề lịch sự chi phối thế nào tới hành động hỏi, chúng tôi dựa vào lý thuyết về lịch sự trong giao tiếp bằng ngôn ngữ của một số tác giả dƣới đây. * Quan điểm về lịch sự của R.Lakoff với ba quy tắc: Quy tắc 1: Không áp đặt (don’t impose). Theo quy tắc này, ngƣời nói sẽ tránh hoặc giảm nhẹ tính áp đặt trong phát ngôn của mình khi mong muốn hỏi một điều gì đó dù là trực tiếp hay gián tiếp.

Ví dụ: (A) - Con có biết là mẹ đang rất bận không? (B) - Con phải biết là mẹ đang rất bận, nghe không? Phát ngôn hỏi (A) có tính lịch sự cao hơn vì lời hỏi có “có biết”. Phát ngôn (B) tính mệnh lệnh cao hơn, thể hiện sự gắt gỏng của ngƣời hỏi vì có “phải biết”. Quy tắc 2: Để ngỏ sự lựa chọn (Offer option) Thực hiện quy tắc này, ngƣời nói phải diễn đạt làm sao cho lời hỏi của mình dễ đƣợc chấp nhận nhất mà không ảnh hƣởng đến mối quan hệ giữa ngƣời hỏi và ngƣời nghe. Quy tắc này hoạt động khi những ngƣời tham thoại có quan hệ hòa đồng.

Ví dụ: - Cậu ngừng đọc mình làm phiền chút đƣợc không? Lời hỏi này đƣợc tăng thêm tính lịch sự khi ngƣời hỏi dùng các từ “làm phiền” các từ có tính lựa chọn “được không?” làm cho ngƣời đƣợc hỏi vui vẻ, thoái mái hơn khi nghe câu hỏi dẫu có bị làm phiền. Quy tắc 3: Tăng cƣờng tình cảm bằng hữu (Encourage feelings of camaraderie). Với quy tắc này, chúng tôi có nhận xét: vấn đề lịch sự có thể đƣợc nhìn nhận rộng hơn dƣới góc độ xã hội học. Chúng ta quen với quan niệm lịch sự thuộc phạm trù đạo đức, thuộc một góc nhìn chuẩn mực nhất định trong giao tiếp.

Nhƣng thực tế cho thấy, lịch sự còn phải thỏa mãn đƣợc tính phù hợp với bối cảnh xảy ra trong cuộc thoại. Ví dụ: (A) - Mẹ ơi, hôm nay bố về phải không? (B) - Mẹ ơi, làm ơn xin cho con biết có phải hôm nay bố về không? Lời hỏi (A) thể hiện mối quan hệ thân tình gần gũi giữa mẹ và con. Còn nếu đứng trên góc độ lịch sự thuần túy, lời hỏi (B) mang tính lịch sự cao hơn nhƣng không hợp với ngữ cảnh và mối quan hệ tình cảm giữa những ngƣời tham thoại. Lời hỏi lịch sự này hoặc trở thành lố bịch, hoặc có thể gây cảm giác không tốt về mối quan hệ giữa những ngƣời tham thoại.

Quan hệ trong xã hội vô cùng phong phú và ngƣời nói đóng những vai giao tiếp khác nhau. Với mỗi vị thế xã hội, ngƣời nói phải có cách ứng xử lịch sự phù hợp với vai giao tiếp của mình. Ứng với một từ politeness, ngƣời Việt ngoài khái niệm lịch sự chung còn tuân theo những khái niệm nhỏ hơn phù hợp với từng cảnh huống và vai giao tiếp xã hội, đó là lễ độ, lễ nghĩa và lễ phép. * Quan điểm về lịch sự của P.Levinson Quan điểm về lịch sự đƣợc P.Levinson phát triển, mở rộng nguyên tắc coi trọng thể diện và phân biệt hai phƣơng diện của thể diện: tích cực (positive face) và tiêu cực (negative face).

Trong diễn biến ngôn ngữ, các hành động ngôn ngữ tiềm ẩn sự đe dọa thể diện cả ngƣời nói và ngƣời nghe đƣợc gọi là hành động đe dọa thể diện (Face Threatening Acts - FTA).Levinson coi các FTA thuộc dạng bi quan, xem con ngƣời trong xã hội là những sinh thể luôn bị bao vây bởi các FTA. Bởi vậy, cần điều chỉnh mối quan hệ xã hội bằng mô hình FFA (Face Flattering Acts) có tính tích cực – các hành động tôn vinh thể diện. Nhƣ vậy, tập hợp các hành động ngôn ngữ đƣợc chia thành hai nhóm lớn: nhóm có hiệu quả tiêu cực và nhóm có hiệu quả tích cực. Chúng tôi tán thành quan điểm về lịch sự của P.Levinson vì tính cụ thể của nó bởi phép lích sự tiêu cực có tính chất bù đắp hay né tránh.

Đó là sự né tránh các FTA hoặc giảm nhẹ bằng một số biện pháp khi buộc lòng phải dung một FTA nào đó để hỏi nhƣ: + Dùng từ xƣng hô lịch sự (bác, ngài, ông, bà, anh…trỏ ngôi thứ hai khi đối thoại trực tiếp). Ví dụ: - Bác làm ơn cho em hỏi đƣờng đƣợc không ạ? Từ xƣng hô có tính chất nhún nhƣờng (bác - em) với cả ngƣời trạc tuổi nhằm tăng thêm tính lịch sự với mong muốn ngƣời hỏi sẽ nhiệt tình chỉ đƣờng nơi mình muốn đến. + Sử dụng dạng giả định. Ví dụ: - Tại sao bác không nói cho em sớm hơn? Giả định nếu nói sớm hơn thì tình huống sẽ khác đi, chắc chắn ngƣời hỏi sẽ có cách giải quyết hài lòng hơn so với tình trạng hiện tại.

+ Dùng hành vi xin lỗi, đƣa đẩy. Ví dụ: - Xin lỗi, mình đang bận quá. Lúc khác mình gọi lại cho bạn đƣợc không? Xin lỗi vì không thể trả lời và nói chuyện với bạn đƣợc lúc này do đang bận việc. + Yêu cầu thông cảm.

Ví dụ: - Xin lỗi, phiền anh có thể không hút thuốc lá ở đây đƣợc không? Yêu cầu thông cảm khiến cho ngƣời đƣợc hỏi hiểu và hợp tác với lời đề nghị của ngƣời nói. Nhìn chung, mối ngƣời tham gia giao tiếp phải có trách nhiệm thực hiện nguyên tắc cộng tác và nguyên tắc lịch sự. Thực hiện những nguyên tắc này không chỉ là nội dung lời nói, cấu trúc phát ngôn mà còn là cả thái độ, cử chỉ, ánh mắt…thể hiện sự thân thiện và lịch sự. Một bên vi phạm nguyên tắc hội thoại, hoặc giữa những ngƣời tham thoại không có sự đồng cảm…đều có thể là nguyên nhân phá vỡ cuộc thoại.

Ngữ cảnh giao tiếp Trong hội thoại, ngoài các nhân vật trực tiếp tham gia giao tiếp thì các tham thoại bao giờ cũng trao đổi trong một ngữ cảnh nhất định. Vì thế, khi phân tích hội thoại chúng ta không thể tách rời khỏi ngữ cảnh giao tiếp. Hoàn cảnh giao tiếp là hoàn cảnh xã hội và tâm lý mà trong đó ở một thời điểm nhất định ngƣời ta sử dụng ngôn ngữ, nó bao gồm những hiểu biết xã hội và những quy ƣớc bất thành văn của những ngƣời tham gia giao tiếp. Cách thức hỏi trong hội thoại thƣờng xuất hiện trong những ngữ cảnh đƣợc xác định.

Ngữ cảnh bao gồm tình huống ngôn ngữ và ngữ cảnh tự nhiên xung quanh, đoạn thoại trƣớc và sau đó, các quy tắc ứng xử, các khía cạnh liên quan nhƣ quan hệ quyền lực hay hoà đồng, phục trang của những ngƣời tham thoại, địa điểm/thời gian diễn ra cuộc thoại, nội dung của cuộc thoại mà hành động hỏi có liên quan.v…Tất cả các yếu tố đƣợc gọi là ngữ cảnh ấy cùng tham dự vào cuộc thoại, quy định cách thức tiến hành cuộc thoại, giúp ngƣời tham thoại nắm diễn biến của cuộc thoại và nhận diện hành động hỏi. Ngữ cảnh tạo nên khả năng giải nghĩa cho các phát ngôn hỏi khi chúng xuất hiện trong những cảnh huống riêng biệt. Ngữ cảnh giao tiếp có quan hệ mật thiết với quá trình giao tiếp của lời nói nhân vật, chi phối cách thức tiến hành cuộc thoại, đó là: - Ngữ cảnh có chức năng chế ƣớc và “cƣỡng chế” việc sử dụng ngôn ngữ của nhân vật giao tiếp. Ví dụ: “Cái đĩ vừa trông thấy bà, mừng rối rít.

Nó cƣời rồi nó khóc chẳng biết vì sao cả.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ