CHƯƠNG I GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN TỘC Ở TỈNH HẢI DƯƠNG – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1. Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc- Một số vấn đề lý luận 1.Khái niệm văn hóa và giá trị văn hóa dân tộc. Văn hóa là một khái niệm có nội hàm hết sức phong phú. Mọi sự vật hiện tượng, mọi công trình trên thế giới vật chất lẫn tinh thần có mối liên hệ với con người, được con người tìm hiểu, nhận thức, tác động và ảnh hưởng trở lại con người đều có khía cạnh văn hóa của nó.
Vì vậy, trong cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật- công nghệ càng phát triển, trình độ tư duy của con người ngày càng cao thì nội hàm văn hóa càng được mở rộng không ngừng. Hoạt động văn hóa là hoạt động sản xuất ra những giá trị tinh thần nhằm giáo dục con người khát vọng hướng tới chân- thiện- mỹ và khả năng sáng tạo ra cái chân, thiện, mỹ trong đời sống. Văn hóa được chọn làm đối tượng nghiên cứu của nhiều nghành khoa học, nó trở thành một thuật ngữ đa nghĩa. Trên thế giới hiện nay có rất nhiều định nghĩa, nhiều cách tiếp cận văn hóa.
PGS Trường Lưu cho rằng, nhìn một cách tổng quát các nhà khoa học thường dựa vào mức độ khái quát và phạm vi đối tượng để chia ra 3 cấp độ tiếp cận: Thứ nhất: cấp độ khái quát nhằm đạt tới khái niệm chung về đặc điểm một lĩnh vực mang tính bao trùm. Thứ hai: cấp độ giá trị tinh thần được chi phối bởi bản chất văn hóa. Thứ ba: cấp độ hệ thống từng lĩnh vực cụ thể của giá trị tinh thần được thể hiện thành sản phẩm vật chất 46. Hướng tiếp cận thứ ba dựa vào cấu trúc hệ thống của sự vật để hiểu sự vật qua một biểu tượng nào đó, lựa chọn những biểu tượng tượng trưng cho một nền 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Thí dụ Kim tự tháp là biểu tượng cho văn hóa Ai Cập, tháp Epphen là biểu tượng của văn hóa Pháp, trống Đồng Đông Sơn là biểu tượng của văn hóa Việt Nam…Nhưng rõ ràng biểu tượng chỉ mới là giai đoạn cao của nhận thức cảm tính, mới chỉ ở cấp độ tượng trưng, là đại diện chứ chưa phải là toàn bộ bản chất văn hóa. Hướng tiếp cận thứ hai chính là khuynh hướng của học thuyết giá trị. Nhưng phải thấy tính hai mặt của học thuyết này, mọi giá trị đều thể hiện mối quan hệ giữa người với vật, chỉ khi nào sự vật khách quan có ích cho con người thì mới gọi là giá trị. Nhưng giá trị không chỉ quyết định bởi ban thân sự vật mà còn quyết định bởi con người đang chịu chi phối của giai cấp, dân tộc, tôn giáo, thời đại…do đó một giá trị có thể đưa ra nhiều cách nhìn khác nhau.
Giá trị mới chỉ là thước đo của văn hóa chứ chưa phải là bản thân văn hóa. TSKH Đỗ Văn Khang nhận xét rằng, lâu nay nghiên cứu văn hóa người ta thường tiếp cận theo khuynh hướng giá trị luận, ít chú ý đến bản thể luận, nặng về mối quan hệ giữa giá trị văn hóa và chủ thể chứ chưa phải là bản thân văn hóa. GS Phan Ngọc quan niệm rằng, một khi văn hóa không phải là một đồ vật, mà là một mối quan hệ, một thuộc tính có ở mọi sự vật liên quan đến con người, có mặt ở mọi tộc người và chỉ ở con người mà thôi, thì không thể nào tìm một định nghĩa về văn hóa ở các ngành khoa học tự nó đã chia cắt loài người ra thành những tập đoàn khác nhau như dân tộc học, xã hội học, kinh tế học, chính trị học. Cần phải tìm nó ở những khoa học nghiên cứu loài người một cách tổng thể như tâm lý học, triết học 26, tr.
Quan niệm của GS Phan Ngọc cũng chứng tỏ các nhà văn hóa học cũng muốn “thoát ra” khỏi văn hóa học để định nghĩa văn hóa. Đó chính là hướng tiếp cận thứ nhất, hướng tiếp cận ở góc độ khái quát nhằm đạt tới khái niệm chung về đặc điểm một lĩnh vực mang tính bao trùm. Đó chính là hướng tiếp cận của Triết học. Các nhà triết học cổ đại phương Đông đều nhấn mạnh khía cạnh quan hệ Lễ - Nghĩa của cộng đồng; các nhà triết học cổ đại phương Tây nhấn mạnh các điều kiện khách quan qui định nên tính cách dân tộc, tính đặc thù và tính cách 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của mỗi dân tộc người, ý nghĩa nhân đạo trong phương thức ứng xử của con người.
Các yếu tố đó có ý nghĩa đối với sự phát triển xã hội. Trong thời cận đại nhà triết học người Anh, Jon Locke (1632-1704) quan tâm đến ý nghĩa của những nét đặc thù trong hoạt động sống của các cộng đồng, vai trò và ý nghĩa của các dạng văn hóa, đặc biệt ông đề cao ý nghĩa của văn hóa tộc người. Nhà triết học người Đức, J.G Hecđe (1744-1804) là người đã nghiên cứu một cách có hệ thống về mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển của các dân tộc cũng như toàn xã hội. Ông cho rằng văn hóa là cái tạo ra tinh thần của dân tộc.
Quan niệm của C. Ăngghen về bản chất văn hóa thể hiện trong mối quan hệ biện chứng giữa con người và xã hội: “Bản chất của con người không phải là cái gì trừu tượng cố hữu của các nhân riêng biệt, trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ” 7, tr11.Mác gọi hoạt động sống của con người là những hoạt động thể hiện quam hệ con người với con người, con người với xã hội.Mác vạch rõ nguồn gốc của văn hóa gắn liền với những năng lực sáng tạo của con người. Sự sáng tạo đó bắt nguồn từ lao động. Văn hóa là sự “Thăng hoa” của sản xuất vật chất.
Ông cho rằng người ta có thể căn cứ vào mức độ tự nhiên được con người khai thác chuyển biến thành bản chất con người như thế nào để đánh giá trình độ văn hóa.Mác viết “Súc vật chỉ nhào nặn vật chất theo thước đo và nhu cầu của giống loài nó, con người chỉ có thể áp dụng thước đo thích dụng cho đối tượng. Do đó con người cũng nhào nặn vật chất theo quy luật của cái đẹp” 7, tr.Mác cho rằng việc con người tạo ra “thiên nhiên thứ hai” theo quy luật của cái đẹp là thuộc tính bản chất, chính nó là cái văn hóa trong hoạt động của con người. Như vậy theo C.Mác, hoạt động của con người không chỉ thỏa mãn nhu cầu ăn, mặc, ở…mà còn là kết tinh năng lực sáng tạo, là cách sống, phương thức sống, phương thức bộc lộ nhân tính, biểu hiện ra trong toàn bộ sản phẩm vật chất, tinh thần do chính con người sáng tạo ra trong quá trình thực tiễn lịch sử- xã hội của mình. Con người là thước đo của mỗi giá trị, còn văn hóa là thước đo nhân tính sự sáng tạo và thái độ của con người trước hiện thực.
Vì vậy 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Ăngghen đã nói “Mỗi bước tiến lên trên con đường văn hóa lại là một bước tiến tự do” 7,tr. Khi bàn về văn hóa, V.Lênin cho rằng, trong xã hội có giai cấp, luôn luôn tồn tại hai nền văn hóa, nền văn hóa của giai cấp thống trị và nền văn hóa của nhân dân lao động. Ông khẳng định tính tất yếu của cách mạng văn hóa, cuộc cách mạng này hết sức khó khăn vì trình độ dân trí và cơ sở hạ tầng lạc hậu song phải chủ động tạo ra các tiền đề căn bản của nền văn hóa cách mạng, là yếu tố rất quan trọng để xây dựng xã hội mới.Lênin đã gắn văn hóa với phát triển, chỉ ra mục tiêu quan trọng nhất của văn hóa là hoàn thiện con người mọi mặt. GS Đào Duy Anh cho rằng: “Người ta thưởng cho ta rằng văn hóa chỉ là những học thuật tư tưởng của loài người, nhân thế mà xem văn hóa vốn có tính chất cao thượng đặc biệt.
Thực ra không phải là như vậy. Học thuật tư tưởng cố nhiên là ở trong phạm vi của văn hóa, nhưng phàm sự sinh hoạt về kinh tế, về chính trị, về xã hội cùng hết thảy các phong tục tập quán tầm thường lại là không phải ở trong phạm vi văn hóa hay sao? Hai tiếng văn hóa chẳng qua chỉ là chung tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng “Văn hóa tức là sinh hoạt”. Như vậy theo GS Đào Duy Anh văn hóa là sinh hoạt có nghĩa ông muốn trình bày văn hóa như một kiểu thức sinh tồn của xã hội, đồng nhất văn hóa với xã hội.TS Trần Ngọc Thêm cũng đưa ra định nghĩa như sau: “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị (vật chất và tinh thần, tĩnh và động, vật thể và phi vật thể…) do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong tương tác với môi trường tự nhiên và xã hôi của mình”. Định nghĩa trên đã bao quát các cách tiếp cận văn hóa đồng thời nhận diện văn hóa trong một loạt các vấn đề khác có liên quan.
Định nghĩa làm sáng tỏ bốn chức năng của văn hóa: chức năng tổ chức; chức năng điều chức năng điều chỉnh; chức năng giao tiếp và chức năng giáo dục. Trong diễn văn khai mạc lễ phát động “Thập niên quốc tế phát triển văn hóa” tại Pháp (21/1/1998), tổng thư ký UNESCO định nghĩa: 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hang bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình. UNESCO thừa nhận văn hóa là cội nguồn trực tiếp của phát triển xã hội, có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội. Nó không những là yếu tố nội sinh của sự phát triển, mà còn là mục tiêu, động lực của sự phát triển xã hội.
Văn hóa giúp cho con người tự hoàn thiện, nó quyết định tính cách riêng của một xã hội, làm cho dân tộc này khác dân tộc khác. Nói đến văn hóa là nói đến con người. Lịch sử văn hóa là lịch sử của con người và loài người. Con người tạo ra văn hóa và văn hóa làm cho con người trở thành người.