đặt vấn đề. Sự phân tầng xã hội : Thứ bậc, đẳng cấp và giai cấp/tầng lớp xã hội Bất bình đẳng và sự phân tầng xã hội là một trong những chủ đề được quan tâm nhất trong xã hội học và đồng thời cũng gây ra những tranh luận gay gắt về những chủ đề này. Dù chúng ta luôn nghe nói rằng vai trò và nghề nghiệp nào trong xã hội cũng cao quý nhưng trên thực tế vẫn luôn có sự phân biệt giữa các nghề nghiệp và vai trò xã hội khác nhau. Những người làm những công việc tay chân đơn giản như lao công, quét rác sẽ không được trọng vọng như các chính trị gia, doanh nhân.
Ngoài ra, sự phân biệt này cũng được thể hiện qua sự khác biệt về thu nhập. Lương của một giám đốc chắc chắn sẽ cao hơn một nhân viên hành chính bình thường. Trong suốt chiều dài lịch sử, người ta quan sát có 3 hình thức chính cho sự phân tầng xã hội : Thứ bậc xã hội (société d’ordres) : sự phân biệt xã hội dựa trên thứ bậc về nhân phẩm và danh dự. Mô hình này chủ yếu mô tả các xã hội phong kiến và Chế độ cũ (Ancien Régime) (Từ thế kỳ 15 đến cuộc Cách mạng Pháp năm 1789) ở Châu âu.
Ba trật tự của xã hội phong kiến Châu âu thời trung cổ là : tu sĩ, hiệp sĩ và nông dân. Roland Mousnier đã đề xuất mô hình này vào những năm 1960. Ông khẳng định rằng xã hội Pháp của chế độ cũ được cấu trúc theo một hệ thống hàng dọc hơn là các lớp hàng ngang. Phân tích của ông dựa trên quan sát về sự vô hạn của các cấp độ và thứ bậc dường như bỏ qua mức độ giàu có và dựa trên các tiêu chí phi kinh tế.
Chính tư cách thành viên trong một nhóm ít nhiều có uy tín đã xác định tầm quan trọng xã hội của một người. Đến thế kỷ 18, dưới thời kỳ Ánh sáng với sự nổi lên của các tư tưởng mới và đặc biệt là cuộc cách mạng Pháp năm 1789 dẫn đến phá vỡ cấu trúc xã hội theo trật tự thứ bậc này. Một hệ thống mới theo chiều ngang được thiết lập với Hiến pháp của nước Pháp rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng. Nghĩa là xét về mặt pháp lý một người dân, một thầy tu, một nhà quý tộc hay một nhà chính trị là bình đẳng.
Ngày nay là mô hình dân chủ ở xã hội phương Tây là để đảm bảo cho trật tự này. Tuy nhiên trên thực tế, người ta vẫn thấy sự khác biệt trong xã hội ví dụ như con của một người dân có thu nhập thấp và con của một nhà tư sản. Mendras, “sự bình đẳng về mặt pháp lý theo bản Tuyên ngôn nhân quyền và sự bất bình đẳng kinh tế và xã hội nơi các công dân chính là hai nguyên tắc mâu thuẫn nhau chi phối sự vận hành của các xã hội tư bản chủ nghĩa” (Trần Hữu Quang, 2019, tr. 18 Dưới ảnh hưởng của nho giáo, trong xã hội Việt Nam thời phong kiến, trật tự xã hội được chia thành : sĩ-nông-công-thương.
Tầng lớp vua quan được coi là có vị trí cao nhất trong xã hội. Tiếp theo là nông dân khi mà nghề nông được xem trọng trong xã hội Việt Nam phong kiến. Trong khi đó, thợ thủ công và nhất là thương nhân bị xã hội xem thường cũng như bị bó buộc bởi các luật lệ. Những thương nhân thường chỉ coi việc buôn bán như việc mưu sinh hơn là để làm giàu.
Đẳng cấp xã hội (Société de castes) : Một xã hội theo đẳng cấp là một xã hội có thứ bậc được tạo thành từ các nhóm xã hội cha truyền con nối, mang tính nội hôn (endogame) với các mối quan hệ được quy tắc hóa chặt chẽ dựa trên tiêu chuẩn về sự trong sạch, thường dựa trên nền tảng tôn giáo. Một trong những xã hội điển hình nhất mô hình đẳng cấp này là xã hội Ấn độ cổ truyền theo Ấn độ giáo (Bà la môn, Hindu giáo). Theo ý thức hệ Bà la môn, xã hội được chia thành bốn đẳng cấp chính theo thứ tự từ cao xuống thấp : Brahman (tăng lữ), ksatrya (chiến binh, quan lại, người cầm quyền, quý tộc), vaisya (thương nhân, thợ thủ công, địa chủ, nông dân) và sudra (đẳng cấp nô lệ, những người làm công việc nặng nhọc phục vụ cho ba đẳng cấp phía trên). Các đẳng cấp này được quy định rõ các chức năng, quyền hạn bởi các luật lệ cho mỗi đẳng cấp.
Đẳng cấp đứng trên được xem là trong sạch hơn đẳng cấp đứng dưới. Tuy vậy, vẫn còn một đẳng cấp thứ năm trong hệ thống varna vốn không được công nhận chính thức trong các kinh sách, là đẳng cấp Dalit (tiện dân). Những người thuộc đẳng cấp này bị coi là "nằm ngoài xã hội" và phải làm các công việc bị cho là hạ tiện như đổ phân, nhặt rác… Họ bị xem là không được chạm vào, bởi nó sẽ dẫn đến sự ô uế cho những đẳng cấp trên nó. Trong khi ở đẳng cấp có thế lực nhất, các tăng lữ Bà la môn được xem là những người duy nhất có thể thực hiện các nghi thức tôn giáo và làm nhiệm vụ trung gian giữa con người và thần linh.
Kinh Vệ Đà cho rằng các đẳng cấp được sinh ra từ các bộ phận khác nhau của vị thần linh tối cao, trong đó người ở đẳng cấp cao thì sinh ra từ phần thân trên, và đẳng cấp thấp nhất sinh ra từ lòng bản chân. Hệ thống đằng cấp này mang tính nội hôn, có nghĩa rằng mỗi người chỉ được phép lập ra đình với người ở cùng đẳng cấp với mình. Họ sinh ra ở đẳng cấp nào thì sẽ không thể thoát ra ngoài đẳng cấp ấy. Điều này làm cản trở quá trình di động xã hội.
Hệ thống này được hình thành cả ngàn năm trước, và đến nay, nó vẫn chi phối, tác động sâu sắc đến xã hội và là nguyên nhân cốt lõi cho những bất ổn trong xã hội Ấn độ ngày nay. Giai cấp/tầng lớp xã hội (Classe sociale) : Theo chủ nghĩa Marx, khái niệm classe sociale thường được dịch là “giai cấp xã hội”, có nghĩa là tập hợp một nhóm người được đặc trưng bởi vị trí của nó trong hệ thống sản xuất. Các giai cấp duy trì quan hệ sản xuất giữa họ với nhau, quan hệ này đại diện cho tập hợp các liên kết kinh tế và xã hội tương ứng với một trạng thái nhất định của lực lượng sản xuất (tức là của hệ thống sản xuất tại nơi làm việc). Đối với Marx, có một sự đối kháng mạnh mẽ giữa hai bên: lực lượng sản xuất tạo ra mối quan hệ thống trị và nô lệ giữa công nhân và chủ sở hữu tư bản.
Sau đó là sự phân cực của xã hội thành hai giai cấp đối địch nhau: giai cấp tư sản – những người nắm giữ tư liệu sản xuất và giai cấp vô sản - những người chỉ có thể bán sức lao động của chính họ. Giai cấp vô sản phải 19 chịu sự bóc lột của giai cấp tư sản, đặc biệt là thông qua việc bóc lột giá trị thặng dư của người lao động Theo Marx, sự phát triển của hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa sẽ dẫn đến sự tích lũy tư bản của giai cấp tư sản trong khi làm bần cùng hóa những người công nhân và nông dân lao động. Điều này dẫn đến cuộc đấu tranh giai cấp gay gắt và đến một ngày sẽ bùng nổ thành cuộc cách mạng thay đổi hệ thống kinh tế và giai cấp này. Theo quan điểm của chủ nghĩa Marx, nhận thức về ý thức giai cấp sẽ dẫn đến khởi nghĩa, biểu hiện trước hết là tổ chức công nhân thành đảng phái và công đoàn.
Do đó, chính ý thức giai cấp này cuối cùng sẽ làm cho nó có thể bắt đầu cuộc đấu tranh giai cấp. Ngày nay, đã có sự cải thiện về địa vị của người lao động nhờ luật pháp xã hội và một phần nhờ vào sự giảm bớt những bất bình đẳng. Tuy nhiên, sự phân phối của cải vẫn rất bất bình đẳng. Theo nghĩa phi Marxist, khái niệm classe sociale được hiểu là một tầng lớp15 đại diện cho một nhóm nào đó có cùng một tình trạng, được đặc trưng bởi cùng một "cơ hội" để có được một số hàng hóa và dịch vụ nhất định.
Nói cách khác đó là khả năng tiếp cận các hàng hóa và dịch vụ trên thị trường. Các tác nhân ít chịu sự quyết định của tầng lớp hơn và thậm chí có thể phát triển trong các tầng lớp xã hội khác nhau16. Ngày nay, cảm giác thuộc về một giai cấp hay tầng lớp xã hội đã giảm đi, ý thức giai cấp không còn rõ ràng như trước nữa. Hơn nữa, tầng lớp xã hội mang tính "chủ quan" (tầng lớp mà người ta nghĩ rằng mình thuộc về) ngày càng thường xuyên là tầng lớp trung lưu, vốn rất khó xác định17.
Do đó, chúng ta sẽ chứng kiến sự bình quân hóa xã hội: lối sống của tầng lớp trung lưu sẽ có xu hướng trở nên phổ biến trong dân chúng, điều này khiến một số người cho rằng tầng lớp trung lưu đang trở thành “tầng lớp trung tâm”. Cuối cùng, do đó sẽ không còn các giai cấp đối thủ được xác định rõ ràng nữa, mà thay vào đó là các nhóm không đồng nhất, xoay quanh tầng lớp trung lưu. Điều này giải thích sự suy giảm xung đột trên thị trường lao động, sự mất quyền lực của các đảng công nhân và sự suy giảm của các tổ chức công đoàn. Thiết chế xã hội (social institutions / institutions sociales) Khái niệm này là một khái niệm quan trọng nhiều lĩnh vực khác nhau như triết học, luật học, khoa học chính trị và đặc biệt là xã hội học.
Nhiều tác giả đã đưa ra những định nghĩa ít nhiều khác nhau về khái niệm này. Theo Michel Lussault18, nó phản ánh một sự hình thành của một tiêu chuẩn xã hội, luật pháp, cấu trúc quyền lực hay một nghi lễ. Thiết chế hóa nghĩa là hành động thiết lập một điều gì đó mang tính nguyên tắc và lâu bền. Theo những nhà xã hội học, kể từ sau Durkheim, thiết chế xã hội là một hệ thống tiêu chuẩn giới hạn suy nghĩ và hành động của các tác nhân và những nhóm xã hội, góp phần vào sự cấu trúc hóa xã hội, sự hình thành nên một cuộc sống tập thể gắn kết và cụ thể.
Trong bối cảnh 15 Ở đây, để phân biệt với cách hiểu Marxist, khái niệm classe được dịch là “tầng lớp” thay vì là “giai cấp” 16 Theo Ses.webclass - các giáo sư từ Học viện Lyon, với sự hỗ trợ của thanh tra giáo dục SES, mạng Canopé và DANE. Nguồn : https://ses.fr/notions/classes-sociales/ 17 Tham khảo như trên.