Giáo Trình Xã Hội Học Đô Thị Hà Nội 2023

Khám phá giáo trình PSD 2023 về xã hội học đô thị, cung cấp kiến thức và phương pháp nghiên cứu hiện đại cho sinh viên và giảng viên.

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Chuyên ngành

Xã Hội Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

giáo trình

2023

102
20
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ XÃ HỘI HỌC ĐÔ THỊ

1.1. Xã hội học là gì ?

1.2. Một định nghĩa tổng quát về xã hội học

1.3. Sự đa dạng cách thức tiếp cận và đối tượng nghiên cứu

1.4. Mối quan hệ của xã hội học và địa lý

1.5. Mâu thuẫn, đối lập và cạnh tranh

1.6. Bước ngoặt cho sự kết hợp

2. CÁC VẤN ĐỀ LỚN CỦA XÃ HỘI HỌC ĐÔ THỊ NGÀY NAY

2.1. Những bàn luận về sự phân tầng xã hội đô thị trên thế giới

2.2. Nhắc lại về quan điểm của Marx and Weber

2.3. Phân cực giàu nghèo và sự nổi lên của tầng lớp trung lưu

2.4. Xu hướng phi trung lưu hóa tại các đô thị ?

2.5. Sự phân tầng xã hội đô thị tại Việt Nam ngày nay

2.6. Sự đa dạng các tầng lớp xã hội

2.7. Sự phát triển của tầng lớp trung lưu và tình trạng nghèo đô thị

2.8. Kết luận chương

3. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ PHÂN MẢNH ĐÔ THỊ

3.1. Phân mảnh và phân mảnh đô thị

3.2. Một số hình thức phân mảnh đô thị nổi bật

3.3. Những ghetto của tầng lớp dưới

3.4. Từ những ghetto của người Do Thái ở Châu âu thời Trung cổ

3.5. Đến một “thế giới ổ chuột” ngày nay

3.6. Những Ghetto của tầng lớp trên : Những « ghetto mạ vàng »

3.7. Quá trình « trưởng giả hóa » (Gentrification)

3.8. Các “cộng đồng đóng cửa” (gated communities)

3.9. Kết luận chương

4. QUYỀN LỰC CÔNG (NHÀ NƯỚC, THÀNH PHỐ)

4.1. Mối quan hệ giữa nhà nước và thành phố: xu hướng phân quyền ?

4.2. Việt Nam: phân cấp hay phân quyền ?

4.3. Sự tham gia của cộng đồng (Xã hội dân sự)

4.4. Sự tham gia của cộng đồng trên thế giới

4.5. Vị trí nào cho sự tham gia của cộng đồng ở Việt Nam ?

4.6. Vị trí, vai trò của các kiến trúc sư, nhà quy hoạch

4.7. Một cái nhìn tổng quan về vai trò của những kiến trúc sư, nhà quy hoạch trên thế giới

4.8. Kiến trúc sư, nhà quy hoạch tại Việt Nam : chủ nghĩa hình thức ?

4.9. Xã hội học ứng dụng trong quy hoạch, xây dựng và quản lý đô thị

4.10. Kết luận chương

Tóm tắt

I. Tổng quan về Giáo Trình Xã Hội Học Đô Thị Hà Nội 2023

Giáo trình Xã hội học đô thị Hà Nội 2023 cung cấp cái nhìn tổng quan về các khái niệm và lý thuyết cơ bản trong lĩnh vực xã hội học đô thị. Tài liệu này không chỉ giúp sinh viên hiểu rõ về các vấn đề lý thuyết mà còn phản ánh thực trạng đô thị hóa tại Hà Nội. Đặc biệt, giáo trình nhấn mạnh vai trò của xã hội học trong việc phân tích các hiện tượng xã hội phức tạp trong bối cảnh đô thị hiện đại.

1.1. Khái niệm cơ bản về xã hội học đô thị

Xã hội học đô thị là một lĩnh vực nghiên cứu tập trung vào các hiện tượng xã hội diễn ra trong môi trường đô thị. Nó bao gồm việc phân tích các mối quan hệ xã hội, cấu trúc xã hội và các vấn đề như di động xã hội và phân tầng xã hội.

1.2. Vai trò của giáo trình trong nghiên cứu xã hội học

Giáo trình này đóng vai trò quan trọng trong việc trang bị kiến thức cho sinh viên về các phương pháp nghiên cứu xã hội học. Nó giúp sinh viên phát triển khả năng phân tích và đánh giá các vấn đề xã hội trong bối cảnh đô thị.

II. Những thách thức trong nghiên cứu xã hội học đô thị hiện nay

Nghiên cứu xã hội học đô thị hiện nay đối mặt với nhiều thách thức, từ sự phân tầng xã hội đến các vấn đề về chính sách đô thị. Những thách thức này không chỉ ảnh hưởng đến việc phát triển đô thị mà còn tác động đến chất lượng cuộc sống của cư dân. Việc hiểu rõ các thách thức này là cần thiết để đưa ra các giải pháp hiệu quả.

2.1. Phân tầng xã hội và sự phân cực giàu nghèo

Phân tầng xã hội trong đô thị đang gia tăng, dẫn đến sự phân cực giữa các tầng lớp xã hội. Điều này tạo ra những bất bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ và cơ hội phát triển.

2.2. Vấn đề đô thị hóa và di dân

Đô thị hóa nhanh chóng kéo theo sự gia tăng di dân từ nông thôn ra thành phố. Điều này tạo ra áp lực lên hạ tầng và dịch vụ đô thị, đồng thời làm gia tăng các vấn đề xã hội như nghèo đói và thất nghiệp.

III. Phương pháp nghiên cứu trong xã hội học đô thị

Các phương pháp nghiên cứu trong xã hội học đô thị rất đa dạng, từ nghiên cứu định tính đến định lượng. Việc lựa chọn phương pháp phù hợp là rất quan trọng để đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu. Giáo trình cung cấp hướng dẫn chi tiết về các phương pháp này.

3.1. Nghiên cứu định tính trong xã hội học đô thị

Nghiên cứu định tính giúp hiểu sâu về các hiện tượng xã hội thông qua phỏng vấn, quan sát và phân tích tài liệu. Phương pháp này thường được sử dụng để khám phá các khía cạnh phức tạp của đời sống đô thị.

3.2. Nghiên cứu định lượng và phân tích số liệu

Nghiên cứu định lượng sử dụng các công cụ thống kê để phân tích dữ liệu. Phương pháp này giúp xác định các mối quan hệ giữa các biến số và đưa ra các kết luận có thể tổng quát hóa cho toàn bộ dân số.

IV. Ứng dụng thực tiễn của xã hội học đô thị tại Hà Nội

Xã hội học đô thị không chỉ là lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc phát triển chính sách đô thị. Các nghiên cứu xã hội học giúp các nhà hoạch định chính sách hiểu rõ hơn về nhu cầu và mong muốn của cư dân, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp.

4.1. Chính sách phát triển đô thị bền vững

Các nghiên cứu xã hội học cung cấp thông tin quan trọng để xây dựng các chính sách phát triển đô thị bền vững. Điều này bao gồm việc cải thiện hạ tầng, dịch vụ công và bảo vệ môi trường.

4.2. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng

Sự tham gia của cộng đồng trong quá trình ra quyết định là rất quan trọng. Các nghiên cứu xã hội học giúp xác định cách thức mà cư dân có thể tham gia vào các vấn đề liên quan đến đô thị.

V. Kết luận và tương lai của xã hội học đô thị

Xã hội học đô thị đang ngày càng trở nên quan trọng trong bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng. Tương lai của lĩnh vực này phụ thuộc vào khả năng thích ứng với các thay đổi xã hội và môi trường. Việc nghiên cứu và ứng dụng các lý thuyết xã hội học sẽ giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của cư dân đô thị.

5.1. Xu hướng nghiên cứu xã hội học đô thị trong tương lai

Trong tương lai, nghiên cứu xã hội học đô thị sẽ tiếp tục phát triển với sự chú trọng vào các vấn đề như biến đổi khí hậu, di dân và công bằng xã hội. Các nhà nghiên cứu cần phải tìm ra các phương pháp mới để giải quyết các thách thức này.

5.2. Vai trò của công nghệ trong nghiên cứu xã hội học

Công nghệ sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc thu thập và phân tích dữ liệu xã hội. Việc ứng dụng công nghệ thông tin sẽ giúp nâng cao hiệu quả nghiên cứu và đưa ra các giải pháp kịp thời cho các vấn đề đô thị.

10/07/2025
Psd 2023 giáo trình xhh đô thị

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề. Sự phân tầng xã hội : Thứ bậc, đẳng cấp và giai cấp/tầng lớp xã hội Bất bình đẳng và sự phân tầng xã hội là một trong những chủ đề được quan tâm nhất trong xã hội học và đồng thời cũng gây ra những tranh luận gay gắt về những chủ đề này. Dù chúng ta luôn nghe nói rằng vai trò và nghề nghiệp nào trong xã hội cũng cao quý nhưng trên thực tế vẫn luôn có sự phân biệt giữa các nghề nghiệp và vai trò xã hội khác nhau. Những người làm những công việc tay chân đơn giản như lao công, quét rác sẽ không được trọng vọng như các chính trị gia, doanh nhân.

Ngoài ra, sự phân biệt này cũng được thể hiện qua sự khác biệt về thu nhập. Lương của một giám đốc chắc chắn sẽ cao hơn một nhân viên hành chính bình thường. Trong suốt chiều dài lịch sử, người ta quan sát có 3 hình thức chính cho sự phân tầng xã hội : Thứ bậc xã hội (société d’ordres) : sự phân biệt xã hội dựa trên thứ bậc về nhân phẩm và danh dự. Mô hình này chủ yếu mô tả các xã hội phong kiến và Chế độ cũ (Ancien Régime) (Từ thế kỳ 15 đến cuộc Cách mạng Pháp năm 1789) ở Châu âu.

Ba trật tự của xã hội phong kiến Châu âu thời trung cổ là : tu sĩ, hiệp sĩ và nông dân. Roland Mousnier đã đề xuất mô hình này vào những năm 1960. Ông khẳng định rằng xã hội Pháp của chế độ cũ được cấu trúc theo một hệ thống hàng dọc hơn là các lớp hàng ngang. Phân tích của ông dựa trên quan sát về sự vô hạn của các cấp độ và thứ bậc dường như bỏ qua mức độ giàu có và dựa trên các tiêu chí phi kinh tế.

Chính tư cách thành viên trong một nhóm ít nhiều có uy tín đã xác định tầm quan trọng xã hội của một người. Đến thế kỷ 18, dưới thời kỳ Ánh sáng với sự nổi lên của các tư tưởng mới và đặc biệt là cuộc cách mạng Pháp năm 1789 dẫn đến phá vỡ cấu trúc xã hội theo trật tự thứ bậc này. Một hệ thống mới theo chiều ngang được thiết lập với Hiến pháp của nước Pháp rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng. Nghĩa là xét về mặt pháp lý một người dân, một thầy tu, một nhà quý tộc hay một nhà chính trị là bình đẳng.

Ngày nay là mô hình dân chủ ở xã hội phương Tây là để đảm bảo cho trật tự này. Tuy nhiên trên thực tế, người ta vẫn thấy sự khác biệt trong xã hội ví dụ như con của một người dân có thu nhập thấp và con của một nhà tư sản. Mendras, “sự bình đẳng về mặt pháp lý theo bản Tuyên ngôn nhân quyền và sự bất bình đẳng kinh tế và xã hội nơi các công dân chính là hai nguyên tắc mâu thuẫn nhau chi phối sự vận hành của các xã hội tư bản chủ nghĩa” (Trần Hữu Quang, 2019, tr. 18 Dưới ảnh hưởng của nho giáo, trong xã hội Việt Nam thời phong kiến, trật tự xã hội được chia thành : sĩ-nông-công-thương.

Tầng lớp vua quan được coi là có vị trí cao nhất trong xã hội. Tiếp theo là nông dân khi mà nghề nông được xem trọng trong xã hội Việt Nam phong kiến. Trong khi đó, thợ thủ công và nhất là thương nhân bị xã hội xem thường cũng như bị bó buộc bởi các luật lệ. Những thương nhân thường chỉ coi việc buôn bán như việc mưu sinh hơn là để làm giàu.

Đẳng cấp xã hội (Société de castes) : Một xã hội theo đẳng cấp là một xã hội có thứ bậc được tạo thành từ các nhóm xã hội cha truyền con nối, mang tính nội hôn (endogame) với các mối quan hệ được quy tắc hóa chặt chẽ dựa trên tiêu chuẩn về sự trong sạch, thường dựa trên nền tảng tôn giáo. Một trong những xã hội điển hình nhất mô hình đẳng cấp này là xã hội Ấn độ cổ truyền theo Ấn độ giáo (Bà la môn, Hindu giáo). Theo ý thức hệ Bà la môn, xã hội được chia thành bốn đẳng cấp chính theo thứ tự từ cao xuống thấp : Brahman (tăng lữ), ksatrya (chiến binh, quan lại, người cầm quyền, quý tộc), vaisya (thương nhân, thợ thủ công, địa chủ, nông dân) và sudra (đẳng cấp nô lệ, những người làm công việc nặng nhọc phục vụ cho ba đẳng cấp phía trên). Các đẳng cấp này được quy định rõ các chức năng, quyền hạn bởi các luật lệ cho mỗi đẳng cấp.

Đẳng cấp đứng trên được xem là trong sạch hơn đẳng cấp đứng dưới. Tuy vậy, vẫn còn một đẳng cấp thứ năm trong hệ thống varna vốn không được công nhận chính thức trong các kinh sách, là đẳng cấp Dalit (tiện dân). Những người thuộc đẳng cấp này bị coi là "nằm ngoài xã hội" và phải làm các công việc bị cho là hạ tiện như đổ phân, nhặt rác… Họ bị xem là không được chạm vào, bởi nó sẽ dẫn đến sự ô uế cho những đẳng cấp trên nó. Trong khi ở đẳng cấp có thế lực nhất, các tăng lữ Bà la môn được xem là những người duy nhất có thể thực hiện các nghi thức tôn giáo và làm nhiệm vụ trung gian giữa con người và thần linh.

Kinh Vệ Đà cho rằng các đẳng cấp được sinh ra từ các bộ phận khác nhau của vị thần linh tối cao, trong đó người ở đẳng cấp cao thì sinh ra từ phần thân trên, và đẳng cấp thấp nhất sinh ra từ lòng bản chân. Hệ thống đằng cấp này mang tính nội hôn, có nghĩa rằng mỗi người chỉ được phép lập ra đình với người ở cùng đẳng cấp với mình. Họ sinh ra ở đẳng cấp nào thì sẽ không thể thoát ra ngoài đẳng cấp ấy. Điều này làm cản trở quá trình di động xã hội.

Hệ thống này được hình thành cả ngàn năm trước, và đến nay, nó vẫn chi phối, tác động sâu sắc đến xã hội và là nguyên nhân cốt lõi cho những bất ổn trong xã hội Ấn độ ngày nay. Giai cấp/tầng lớp xã hội (Classe sociale) : Theo chủ nghĩa Marx, khái niệm classe sociale thường được dịch là “giai cấp xã hội”, có nghĩa là tập hợp một nhóm người được đặc trưng bởi vị trí của nó trong hệ thống sản xuất. Các giai cấp duy trì quan hệ sản xuất giữa họ với nhau, quan hệ này đại diện cho tập hợp các liên kết kinh tế và xã hội tương ứng với một trạng thái nhất định của lực lượng sản xuất (tức là của hệ thống sản xuất tại nơi làm việc). Đối với Marx, có một sự đối kháng mạnh mẽ giữa hai bên: lực lượng sản xuất tạo ra mối quan hệ thống trị và nô lệ giữa công nhân và chủ sở hữu tư bản.

Sau đó là sự phân cực của xã hội thành hai giai cấp đối địch nhau: giai cấp tư sản – những người nắm giữ tư liệu sản xuất và giai cấp vô sản - những người chỉ có thể bán sức lao động của chính họ. Giai cấp vô sản phải 19 chịu sự bóc lột của giai cấp tư sản, đặc biệt là thông qua việc bóc lột giá trị thặng dư của người lao động Theo Marx, sự phát triển của hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa sẽ dẫn đến sự tích lũy tư bản của giai cấp tư sản trong khi làm bần cùng hóa những người công nhân và nông dân lao động. Điều này dẫn đến cuộc đấu tranh giai cấp gay gắt và đến một ngày sẽ bùng nổ thành cuộc cách mạng thay đổi hệ thống kinh tế và giai cấp này. Theo quan điểm của chủ nghĩa Marx, nhận thức về ý thức giai cấp sẽ dẫn đến khởi nghĩa, biểu hiện trước hết là tổ chức công nhân thành đảng phái và công đoàn.

Do đó, chính ý thức giai cấp này cuối cùng sẽ làm cho nó có thể bắt đầu cuộc đấu tranh giai cấp. Ngày nay, đã có sự cải thiện về địa vị của người lao động nhờ luật pháp xã hội và một phần nhờ vào sự giảm bớt những bất bình đẳng. Tuy nhiên, sự phân phối của cải vẫn rất bất bình đẳng. Theo nghĩa phi Marxist, khái niệm classe sociale được hiểu là một tầng lớp15 đại diện cho một nhóm nào đó có cùng một tình trạng, được đặc trưng bởi cùng một "cơ hội" để có được một số hàng hóa và dịch vụ nhất định.

Nói cách khác đó là khả năng tiếp cận các hàng hóa và dịch vụ trên thị trường. Các tác nhân ít chịu sự quyết định của tầng lớp hơn và thậm chí có thể phát triển trong các tầng lớp xã hội khác nhau16. Ngày nay, cảm giác thuộc về một giai cấp hay tầng lớp xã hội đã giảm đi, ý thức giai cấp không còn rõ ràng như trước nữa. Hơn nữa, tầng lớp xã hội mang tính "chủ quan" (tầng lớp mà người ta nghĩ rằng mình thuộc về) ngày càng thường xuyên là tầng lớp trung lưu, vốn rất khó xác định17.

Do đó, chúng ta sẽ chứng kiến sự bình quân hóa xã hội: lối sống của tầng lớp trung lưu sẽ có xu hướng trở nên phổ biến trong dân chúng, điều này khiến một số người cho rằng tầng lớp trung lưu đang trở thành “tầng lớp trung tâm”. Cuối cùng, do đó sẽ không còn các giai cấp đối thủ được xác định rõ ràng nữa, mà thay vào đó là các nhóm không đồng nhất, xoay quanh tầng lớp trung lưu. Điều này giải thích sự suy giảm xung đột trên thị trường lao động, sự mất quyền lực của các đảng công nhân và sự suy giảm của các tổ chức công đoàn. Thiết chế xã hội (social institutions / institutions sociales) Khái niệm này là một khái niệm quan trọng nhiều lĩnh vực khác nhau như triết học, luật học, khoa học chính trị và đặc biệt là xã hội học.

Nhiều tác giả đã đưa ra những định nghĩa ít nhiều khác nhau về khái niệm này. Theo Michel Lussault18, nó phản ánh một sự hình thành của một tiêu chuẩn xã hội, luật pháp, cấu trúc quyền lực hay một nghi lễ. Thiết chế hóa nghĩa là hành động thiết lập một điều gì đó mang tính nguyên tắc và lâu bền. Theo những nhà xã hội học, kể từ sau Durkheim, thiết chế xã hội là một hệ thống tiêu chuẩn giới hạn suy nghĩ và hành động của các tác nhân và những nhóm xã hội, góp phần vào sự cấu trúc hóa xã hội, sự hình thành nên một cuộc sống tập thể gắn kết và cụ thể.

Trong bối cảnh 15 Ở đây, để phân biệt với cách hiểu Marxist, khái niệm classe được dịch là “tầng lớp” thay vì là “giai cấp” 16 Theo Ses.webclass - các giáo sư từ Học viện Lyon, với sự hỗ trợ của thanh tra giáo dục SES, mạng Canopé và DANE. Nguồn : https://ses.fr/notions/classes-sociales/ 17 Tham khảo như trên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ