Chương 1 T Ỏ N G Q U A N VÈ T H U É 1. LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THUÉ Thuế ra đòi là cần thiết khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của nhà nước. Ngay từ khi nhà nước ra đời thì thuế cũng xuất hiện, thuế là sản phẩm tất yếu từ sự xuất hiện của hệ thống bộ máy nhà nước. Ngược lại, thuế là công cụ đảm bảo cung cấp phương tiện vật chất cần thiêt cho sự tôn tại và hoạt động của bộ máy nhà nước.
Thuế luôn luôn gắn chặt với sự phát triển của tổ chức bộ máy nhà nước. Sự phát triển và thay đổi hình thái tổ chức nhà nước luôn kéo theo sự cải biến của các hinh thức thuế và hệ thống thuế nói chung. Thuế là công cụ quan trọng mà bất kỳ nhà nước nào cũng phải sử dụng để thực thi chức năng, nhiệm vụ của minh. Đẻ đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của mình, nhà nước chỉ có thể và cần phải dùng quyền lực để bất buộc các thành viên trong xã hội có nghĩa vụ đóng góp một phần sản phẩm, hoặc một phần thu nhập cho nhà nước - hình thức đóng góp đó chính là thuế.
Nhà nước là một tổ chức chính trị, đại diện quyền lợi cho giai cấp thống trị, thi hành các chính sách do giai cấp thống trị đặt ra đề cai trị xã hội. Nhà nước xuất hiện đòi hỏi phải có cơ sở vật chất nhất định để đảm bảo cho sụ tồn tại và hoạt động của mình. Do đó, nhà nước phải dùng quyền lực chính trị vốn có để tập trung một bộ phận của cải trong xã hội vào tay nhà nước. Việc huy động, tập trung nguồn của cải đó có thể thực hiện bằng các cách khác nhau, trong đó có hình thức đóng góp bắt buộc được gọi là thuế.
Xem xét sự phát triển của các hình thức và phương pháp thu thuế, có thể chia lịch sử hinh thành và phát triển của thuế thành 3 giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất, bắt đầu từ thế giới cổ đại đến đầu thế kỷ XVI được đặc trưng bời sự hỉnh thành các loại thuế sơ khai và nhà nước chưa có một bộ máy thu thuế hoàn chỉnh. Thuế xuất hiện đầu tiên dưới thời La Mã cổ đại. Ban đầu đất nước La Mã chi bao gồm thành phố Rome.
Chi phí quản lý đất nước còn nhỏ bé. Hội đồng thành phố làm việc không được trả công, việc cống hiến tài sản cá nhân được xem là niềm vinh dự và đem lại sự kính trọng. Chi tiêu của Chinh phủ chủ yếu cho xây đắp thành lũy, nhà ở và được trang trải bời những khoản thu về tiền thuê đất. Nhưng khi chiến tranh xảy ra thì người dân thành phố Rome bắt đầu biết đến nộp thuế, lao dịch và cống nạp để trang trải cho những nhu cầu cần thiết của đất nước.
Nguồn thu chính của ngân sách La Mã lúc đầu là thuế đất. Các loại bất động sản, vật nuôi, nô lệ và các tài sản có giá trị khác cũng nằm trong diện nộp thuế. Sau này xuất hiện thêm một số loại thuế khác như thuế thu vào hoa quả (chủ yếu là nho). Người dân thành thị chì phải trả một thứ thuế duy nhất là thuế thân.
Trong một thời gian dài ờ La Mã chưa có bộ máy thu thuế của Chính phủ. Việc thu thuế được giao cho một số đại diện do Chính phủ ủy quyền. Hoạt động của họ tách khỏi sự hỗ trợ của dân chúng mà Chính phủ lại không kiểm soát được. Kết quả diễn ra tình trạng mua chuộc, đút lót, lạm dụng quyền lực.
Tình trạng đó đưa đến khủng hoảng kinh tế vào thế kỷ thứ I trước C ôn g N gu ycn. Đen thòi kỳ đế chế La Mã, Vua Octavius (từ năm 63 trước Công Nguyên đến năm 14 sau Công Nguyên) đã thành lập một tổ chức tài chính độc lập của Chính phủ nhằm thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát thu thuế. Chính phủ quản lý chặt chẽ các khoản thu thuế bằng cách so sánh lợi thế về đất đai ờ các địa phương, lập sổ ghi chép chi tiết về việc sờ hữu đất đai và thống kê tài sản của từng người dân. sổ sách được ký nhận bời người đứng đầu địa phương, cùng với người đại diện cho tổ chức tài chính của tỉnh, thành phố.
Hàng năm, vào một ngày nhất định, mỗi người dân có trách nhiệm trinh cho cơ quan chúc năng xem bản khai của minh. 2 Tuy nhiên, tổ chức tài chính của Chính phủ không trực tiếp thu thuế của dân mà giao cho các lãnh đạo địa phương thực hiện. Chính phủ thông qua các tổ chức công khố xem xét, đánh giá và xác định tổng số thuế phải nộp ờ các địa phương, đồng thời kiểm tra về thời hạn nộp thuế. Trong thời gian này, thuế thu nộp bằng tiền.
Người dân bán lương thực, thực phẩm để nộp thuế. Điều này kích thích và phát triển mối quan hệ hàng hoá - tiền tệ, làm sâu sắc hơn quá trình phân công lao động xã hội và thúc đẩy tiến trình đô thị hoá. Tuy nhiên, trong thời kỳ này nhiều hình thức thuế được ban hành lại không làm hưng thịnh về tài chính cho đế quốc La Mã. Ngược lại, gánh nặng thuế khoá đối với người dân là nguyên nhân quan trọng gây ra khủng hoảng tài chính và đưa nền kinh tế đất nước lâm vào tình trạng yếu kém.
Giai đoạn thứ hai, bắt đầu từ thế kỳ thứ XVI đến đầu thế kỳ XIX: Hỉnh thành hệ thống thuế và các tổ chức thu thuế tương đối hoàn chỉnh. Chính phủ hiện đại xuất hiện ở Châu Âu khoảng thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII. Do chưa có đủ đội ngũ quan chức thu thuế chuyên nghiệp nên Chính phủ đã sử dụng các chủ thái ấp vào công tác thu thuế. Một số quốc gia châu Âu sử dụng phương pháp đấu giá quyền thu thuế: số thuế được xác định và nhượng lại ngay sau khi nhận được quyền thu thuế nếu ai trả mức cao nhất trong cuộc đấu giá.
Tất cả số tiền thuế thu được ngay lập tức được chuyển vào quỹ của Chính phủ. Sau đó các chủ thái ấp sẽ thực hiện trọng trách quốc gia và nhận được thu nhập cho minh. Ngàn sách quốc gia lại trong tình trạng ngheo nan va đièu nay lặp lại tinh trạng hch sứ như thơi La Mã cỏ đại. Đe khắc phục tình trạng đó, năm 1662 ờ Pháp, các văn bản pháp luật đã giới hạn phần hoa hồng trả cho các chủ thái ấp.
Vì thế, tổng số thu thuế vào ngân sách của Chính phủ ngày càng tăng và chi phí cho việc thu thuế ngày càng giảm. Chính việc chuyển các tổ chức thu thuế vào trong hệ thống quản lý của Chính phù đã làm cho việc thu thuế trờ nên hợp lý hon. Vào thế kỷ XVIII ờ các nước phương Tây đã thiết lập bộ máy hành chính của Chính phủ để tổ chức và kiểm soát chặt chẽ việc thu thuế. 3 Trong khoảng thời gian này, ở các quốc gia châu Âu xuất hiện nhiều loại thuế nhưng không có khoản thu lớn.
Nguồn thu chính của Chính phủ là thuế thân. Giói quý tộc và tăng lữ thỉ không phải nộp khoản thuế này, ngược lại tầng lớp tư sản và nông dân phải nộp cho Chính phủ 10-15% toàn bộ thu nhập của mình. Các quan chúc và viên chức nhà nước, quân đội nếu được thăng chức cũng phải nộp một khoản thuế đặc biệt. Trong hệ thống thuế trực thu thường bao gồm: Thuế đất, thuế đối với trang thiết bị quân đội, thuế mua ngựa, thuế tuyển mộ lính (người nộp thuế này được miễn trừ khỏi nghĩa vụ quân sự).
Nguồn thu chủ yếu trong hệ thống thuế gián thu là thuế quan với mức thu từ 5% đến 25%. Tuy vậy, việc ấn định mức thuế cho từng loại hàng hoá xuất nhập khẩu cũng không có cơ sở khoa học. Do đó, có những hàng hoá xuất khẩu đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách, nhưng cũng kim hãm sự phát triển của thương mại. Giai đoạn thứ ba, bắt đầu từ thế kỷ XIX cho đến nay.
Đó là thời kỳ hình thành hệ thống thuế và bộ máy thu thuế hoàn chinh. Trong giai đoạn này, ở hầu hết các nước phát triển đã hình thành hệ thống thuế với các luật thuế và bộ máy thu thuế hoàn chình. Các loại thuế đã có trước đây dần được hoàn thiện hon, trong đó phải kể đến thuế ruộng đất ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc tạo lập nguồn thu cho Chính phủ. Nếu như thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản, thuế quan rất phát triển và chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng thu ngân sách, thì hiện nay vai trò của hình thức thuế này ngày càng lu mờ và nhường chỗ cho các loại thuế khác.
Trong thời gian đó xuất hiện nhiều hình thức thuế mới và được phát triển đến ngày nay: Thuế TNCN ra đời ờ Anh vào năm 1842, sau đó nhiều nước công nghiệp phát triển khác cũng áp dụng thuế này (Nhật năm 1887, Mỹ năm 1913 và Pháp năm 1914). Hiện nay, thuế TNCN là một trong những hình thức thuế giữ vai trò quan trọng bậc nhất trong hệ thống thuế của các quốc gia phát triển, không chỉ ờ tổng số thu thuế mà cả vai trò của nó trong phân phối thu nhập. Nhiều hỉnh thức thuế mói tiên tiến cũng được nghiên cứu và đưa vào áp dụng trong thực tiễn: Thuế GTGT ra đời ờ Pháp năm 4 1954 và hiện nay đã lan rộng ra nhiều nước đang phát triển khác và trờ ihành hình thức thuế gián thu phổ biến trên thế giới. Bộ máy thu thuế ở các nước phát triển cũng ngày được hoàn chỉnh và hinh thành đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, không chỉ bao gồm các cơ quan quản lý thu thuế, mà ờ nhiều quốc gia còn có cả bộ máy cảnh sát thuế, tòa án thuế riêng biệt nhằm đảm bảo sự thống nhất trong việc xây dựng luật thuế và xử lý các vi phạm về thuế.
Như vậy, cùng vói việc mở rộng các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước, các hình thức thuế ngày càng phong phú hon, công tác quản lý thuế ngày càng được hoàn thiện hơn và thuế trờ thành một công cụ quan trọng, có hiệu quả của nhà nước để tác động đến đời sống kinh tế - xã hội của đất nuớc. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA THUẾ 1. Khái niệm thuế Trong lịch sử tồn tại và phát triển của nhà nước, đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về thuế, có thể điểm lược một số khái niệm về thuế như sau: Trong tác phẩm "Phê phán cương lĩnh Gôta", khi bàn về mối quan hệ giữa thuế và nhà nước, C.