ii GIÁO TRÌNH MÔN HỌC Tên môn học: THỰC VẬT DƯỢC Mã môn học: MH13-DC Số tín chỉ: 2/2 Thời gian thực hiện môn học: 90 giờ Trong đó: Lý thuyết: 28 giờ; Thực hành: 56 giờ; Kiểm tra: 6 giờ. Vị trí, tính chất của môn học: Cung cấp cho sinh viên thuộc đối tượng dược sĩ các kiến thức cơ bản về đặc điểm hình thái, giải phẫu thực vật cũng như phân loại và tài nguyên cây thuốc nhằm nhận biết đúng và xác định được tên khoa học của cây thuốc. Mục tiêu môn học: Sau khi sinh viên học xong môn học sẽ đạt được: * Về kiến thức: - Mô tả đúng đặc điểm hình thái, cấu tạo giải phẫu của một số cơ quan thực vật. - Trình bày được các nguyên tắc chung để phân loại thực vật.
- Chỉ ra được những đặc điểm nổi bật của một số họ cây thường được dùng làm thuốc. * Về kỹ năng: - Làm được các thao tác kỹ thuật, đạt yêu cầu trong thực hành môn học (làm tiêu bản, soi kính hiển vi, ép mẫu cây khô. - Đọc và viết đúng tên Latin một số thuốc, cây thuốc. * Về thái độ: - Rèn luyện tác phong thận trọng, tỷ mỉ trong thực hành….
Nội dung môn học: Thời gian (giờ) ST Tên chương, mục Kiểm T Tổng LT TH tra 1 Bài 1: ĐẠI CƯƠNG VỀ THỰC VẬT DƯỢC 2 2 0 2 Bài 2: TẾ BÀO VÀ MÔ THỰC VẬT 8 4 3 1 3 Bài 3: RỄ CÂY 6 2 4 4 Bài 4: THÂN CÂY 6 2 4 5 Bài 5: LÁ CÂY 6 2 3 1 6 Bài 6: HOA 14 6 8 7 Bài 7: QUẢ VÀ HẠT 2 2 0 8 Bài 8: PHÂN LOẠI THỰC VẬT 12 8 4 iii Thời gian (giờ) ST Tên chương, mục Kiểm T Tổng LT TH tra 9 KIỂM TRA 4 4 TỔNG CỘNG 60 28 26 6 iv MỤC LỤC TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN. i LỜI GIỚI THIỆU. i GIÁO TRÌNH MÔN HỌC. ii MỤC LỤC.
ĐẠI CƯƠNG VỀ THỰC VẬT DƯỢC. TẾ BÀO VÀ MÔ THỰC VẬT. QUẢ VÀ HẠT. PHÂN LOẠI THỰC VẬT.
ĐẶC ĐIỂM MỘT SỐ HỌ CÂY DÙNG LÀM THUỐC. 66 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1 BÀI 1. ĐẠI CƯƠNG VỀ THỰC VẬT DƯỢC A. MỤC TIÊU HỌC TẬP 1.
Trình bày được vai trò của thực vật đối với thiên nhiên và ngành Dược. Nêu được các phần của Thực Vật dược và ý nghĩa của từng phần đó. Kể sơ lược lịch sử của môn Thực vật dược. NỘI DUNG CHÍNH Thực vật dược là môn học ứng dụng các kiến thức cơ bản của Thực vật học vào ngành Dược nghiên cứu về hình dạng, cấu tạo, sự sinh trưởng và phân loại các thực vật dùng làm thuốc.
VAI TRÒ CỦA THỰC VẬT 1.1 Đối với thiên nhiên Thực vật bao gồm các cây có diệp lục và cây không diệp lục đóng vai trò rất quan trọng đối với các sinh vật trên trái đất vì tất cả các sinh vật đều cần oxy tự do để hô hấp và thải carbon dioxyd (CO2). Sự quang hợp của cây xanh cần CO2 để tạo ra chất diệp lục và nhả oxy làm cân bằng lượng oxy và CO2 trong khí quyển. Nếu không có quá trình quang hợp thì lượng oxy sẽ giảm dần và lượng CO2 sẽ tăng lên (do sự hô hấp, sự đốt cháy, sự lên men, sự phun của núi lửa…) đến một mức nào đó thì các sinh vật không tồn tại được, đồng thời bằng hiện tượng quang hợp, cây có diệp lục dùng CO2 trong không khí, nước và muối khoáng hoà tan trong nước hấp thu được từ rễ cây để tổng hợp nên những chất hữu cơ phức tạp như protid, glucid, lipid… Chính nhờ các chất hữu cơ đó các sinh vật mới có chất dinh dưỡng để sinh sống và con người đã sử dụng biết bao nhiêu sản phẩm từ thực vật như rau xanh, tinh bột, đường, dầu ăn, sợi bông, cao su, gỗ, chè, cà phê, thuốc, hoa, quả…. để phục vụ sinh hoạt hàng ngày.
Còn các cây không diệp lục cũng rất quan trọng vì nó phân giải các chất hữu cơ tổng hợp thành những chất hữu cơ, vô cơ ban đầu để cây có diệp lục hấp thụ được. Sự phân giải này không những thể hiện trong quá trình thối rữa của các sinh vật và cây cỏ khi chết, làm cho các vi khuẩn, nấm mốc trú ngụ trên mặt đất hoạt động. Sự phân giải này càng mạnh thì đất càng nhiều màu mỡ để giúp cho cây có diệp lục phát triển xanh tốt.2 Đối với ngành Dược Từ lâu loài người đã biết sử dụng các cây cỏ hoang dại để làm thuốc chữa bệnh. Tổ tiên ta đã dùng Toa căn bản gồm 10 cây thuốc là cây Gừng, Sả, Cỏ tranh, Rau má, Cỏ mần trầu, Ké đầu ngựa, Mơ tam thể, Cỏ nhọ nồi, Cam thảo nam và quả Quýt để chữa một số bệnh thông thường.
Trong y học cổ truyền dân tộc dùng nhiều vị thuốc có nguồn gốc từ thực vật như: ngải 2 cứu, ích mẫu, mã đề, tía tô, kinh giới. Tây y có nhiều thứ thuốc được chiết xuất từ nguyên liệu thực vật như strychnin từ hạt cây Mã tiền, morphin từ nhựa quả Thuốc phiện, berberin từ cây Vàng đắng, artemisinin từ cây Thanh cao hoa vàng…. Nhiều vị thuốc quý có giá trị kinh tế cao nguồn gốc cũng từ thực vật như: quế chi, nhân sâm, tam thất, sinh địa, đương quy, đại hồi…. Thực vật học giúp ta xác định tên cây, nghiên cứu cấu tạo, kiểm tra chất lượng các nguyên liệu làm thuốc có nguồn gốc từ thực vật.
Từ đó có kế hoạch trồng trọt, di thực và khai thác các cây dùng là thuốc chữa bệnh và xuất khẩu. Như vậy, thực vật đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự sống của mọi sinh vật và hoạt động kinh tế của loài người nên trách nhiệm của chúng ta phải tích cực trồng cây bảo vệ thiên nhiên nói chung và cây xanh nói riêng để đảm bảo cân bằng sinh thái môi trường. CÁC PHẦN CỦA THỰC VẬT DƯỢC 2.1 Hình thái học thực vật Chuyên nghiên cứu về hình dạng bên ngoài của các cây để phân biệt được cây thuốc hoặc các dược liệu chưa chế biến, nó cũng là cơ sở cho môn Hệ thống học thực vật.2 Giải phẫu học thực vật Chuyên nghiên cứu cấu tạo vi học bên trong của cây để kiểm nghiệm được các vị thuốc đã cắt vụn hoặc tán thành bột, phát hiện ra sự nhầm lẫn hoặc giả mạo.3 Tế bào học thực vật – Mô học thực vật Hai môn cơ sở của giải phẫu học thực vật là Tế bào học thực vật nghiên cứu về các tế bào và Mô học thực vật nghiên cứu về các mô thực vật .4 Sinh lý học thực vật Chuyên nghiên cứu các quá trình hoạt động, sinh trưởng của cây và sự tạo thành các hoạt chất trong cây thuốc; qua đó biết cách trồng, thời vụ thu hái khi bộ phận dùng làm thuốc của cây chứa nhiều hoạt chất nhất để tăng hiệu quả chữa bệnh.5 Hệ thống học thực vật Chuyên nghiên cứu về cách sắp xếp các thực vật thành từng nhóm dựa vào hệ thống tiến hoá của thực vật nên dễ nhớ đặc điểm của các cây, phương hướng nghiên cứu cây thuốc và biết được sự tiến hoá chung của thực vật.6 Sinh thái học thực vật Chuyên nghiên cứu các quan hệ thực vật với các yếu tố của môi trường xung quanh. Mỗi cây có hình dạng và cấu trúc thích nghi với hoàn cảnh như thổ nhưỡng, khí hậu, độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng….
để trồng trọt và di thực cây thuốc.7 Địa lý học thực vật Chuyên nghiên cứu về sự phân bố thực vật trên đất và thành phần của đất đáp ứng cho từng loại cây thuốc. Ngoài ra còn một số phần khác như Cổ sinh thực vật, Phôi sinh học thực vật , Di truyền học, Phấn hoa học, Sinh hóa học……. để áp dụng vào ngành Dược. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ MÔN THỰC VẬT DƯỢC Từ thời cổ xưa, loài người đã biết sử dụng cây cỏ vào cuộc sống và làm thuốc chữa bệnh.
Người cổ Ai Cập đã nói tới dùng thầu dầu, hạt cải, hành tây…… để chữa bệnh và trồng được nhiều loại cây. Thế kỷ thứ XI trước công nguyên, pho sách cổ Ấn Độ “Susruta” đã nói về 760 cây thuốc. 460 –377 năm TCN, Hippocrate là thầy thuốc danh tiếng của Hy Lạp cổ đã miêu tả 236 cây thuốc 384 – 322 năm TCN, Aristote đã viết sách thực vật học đầu tiên bằng tiếng Hy lạp. 371 – 186 năm TCN, người học trò của Aristote là Theophraste đã tiếp tục sự nghiệp của ông và được coi là người sáng lập môn Thực vật học.
79 – 24 năm TCN, nhà bác học Roma Plinus đã mô tả 100 cây trong cuốn Vạn vật học. 60 – 20 năm TCN, Dioscoride đã mô tả hơn 600 cây thuốc trong tác phẩm “Materia medica”(Dược liệu học). Césalpin (1519 – 1603) đã sắp xếp thực vật dựa theo tính chất của hạt cây. Năm 1660, Bauhin đã mô tả tới 5.
Đến thế kỷ thứ XII, nhờ phát minh ra kính hiển vi, nhà vật lý học người Anh là Hook đã tìm thấy tế bào thực vật lần đầu tiên vào năm 1665. Năm 1672, Grew đã sáng lập ra môn Giải phẫu thực vật cùng với Malpighi tác giả cuốn “Anatomia plantarum”. Năm 1680, Leuwenhoeck đã nghiên cứu các vi sinh vật. Tournefort (1656 – 1708) đã mô tả tới 10.240 cây và bắt đầu dùng tiếng Latinh để tóm tắt đặc điểm của cây.
Ray (1628 – 1705) đã mô tả đến 18.000 thực vật và cách phân biệt cây hai lá mầm với cây một lá mầm. Linné (1708 – 1778) là nhà tự nhiên học người Thuỵ Điển đã làm cho khoa học phân loại và hình thái học thực vật phát triển nhanh chóng. Lamarck (1744 – 1829) là tác giả của thuyết tiến hoá. Jussieu (1748 – 1836) lần đầu tiên sắp xếp thực vật thành 100 họ cây.
Brown (1805 – 1877) đã chia Hiển hoa thành cây hạt kín và cây hạt trần. De Candolle (1805 – 1893) đã chia cây Ẩn hoa thành cây Ẩn hoa có mạch và cây Ẩn hoa không mạch. Năm 1859, Darwin đã xuất bản cuốn “Nguồn gốc các loài” đặt cơ sở cho thuyết tiến hoá của thực vật. 4 Gần đây có một số hệ thống phân loại của Eichler (1839 – 1887), Engler và Pranth (viết từ 1887 – 1909), Hutchinson (1934), Buch trong tác phẩm “Hệ thống phân loại thực vật”, Kuasanov trong sách giáo khoa thực vật học, Takhtajan với tác phẩm “Nguồn gốc thực vật bậc kín” và một số hệ thống của Gobi, Kuznesov, Grossgneim (Liên Xô cũ), Metz (CHLB Đức), Wetstein ( CH Ao) Rendle ( VQ Anh), Pull ( HÀ Lan), Bessey và Pulle ( Mĩ)…… Ở nước ta vốn có truyền thống về y học dân tộc lâu đời.