Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Tìm hiểu tri thức bản địa trong việc sử dụng các loài thực vật làm thuốc của đồng bào dân tộc Mông tại xã Cán Tỷ - huyện Quản Bạ - tỉnh Hà Giang" do sinh viên Dương Minh Xuân thực hiện thuộc chuyên ngành Nông lâm kết hợp, Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Việt Hưng (năm 2015).

Về bối cảnh thực tiễn, tri thức bản địa là thành tố cốt lõi phản ánh mối quan hệ thích ứng giữa cộng đồng dân tộc thiểu số và môi trường tự nhiên. Việt Nam sở hữu mức độ đa dạng sinh học cao với khoảng 10.386 loài thực vật có mạch đã được xác định (dự đoán đạt 12.000 loài), trong đó tài nguyên cây thuốc chiếm khoảng 30%. Cán Tỷ là một xã vùng III đặc biệt khó khăn của huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang, nằm trong vùng đệm của Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn. Do địa hình núi đá vôi hiểm trở, diện tích đất nông nghiệp hạn chế, đời sống của đồng bào dân tộc Mông tại đây phụ thuộc chặt chẽ vào việc khai thác lâm sản ngoài gỗ, đặc biệt là cây thuốc. Tuy nhiên, trước sức ép gia tăng dân số, tập quán đốt nương làm rẫy và tình trạng khai thác bừa bãi bán cho thương lái Trung Quốc, nguồn tài nguyên cây thuốc cùng tri thức bản địa tích lũy qua nhiều thế hệ đang đứng trước nguy cơ suy giảm và mai một nghiêm trọng.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu kiến thức bản địa và kinh nghiệm của đồng bào dân tộc Mông trong việc sử dụng các loài thực vật làm thuốc, góp phần bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gen cây thuốc tại địa phương.

Khóa luận xác định 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Đánh giá được thực trạng và mức độ sử dụng các loài thực vật làm thuốc của cộng đồng người Mông.
  2. Xây dựng được danh lục các loài thực vật rừng được người dân sử dụng để làm thuốc chữa bệnh theo kinh nghiệm truyền thống.
  3. Lựa chọn được một số bài thuốc, cây thuốc hay và quan trọng để nhân rộng và bảo tồn trên cơ sở lựa chọn có sự tham gia của người dân.
  4. Tìm hiểu được một số bài thuốc dân gian, công dụng chữa bệnh từ rễ, thân, lá, hoa, quả hay hạt một cách an toàn và có hiệu quả cao.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các loài thực vật bản địa được đồng bào dân tộc Mông sử dụng làm thuốc chữa bệnh tại xã Cán Tỷ.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Cán Tỷ, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang (khảo sát chi tiết tại 3 thôn: Sủa Cán Tỷ, Lùng Vái và Đầu Cầu I).
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được tiến hành từ ngày 02/02/2015 đến ngày 25/04/2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Về khung lý thuyết và tổng quan tài liệu, tác giả kế thừa các tài liệu về vai trò của lâm sản ngoài gỗ và tri thức bản địa trong quản lý rừng bền vững. Nghiên cứu tham chiếu các khuyến nghị y tế quốc tế như Tuyên ngôn Alma-Ata (1978) của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và "Hướng dẫn đánh giá y học cổ truyền" (1991) của WHO về chăm sóc sức khỏe ban đầu bằng nguồn thảo dược tự nhiên. Về mặt phân loại và dược tính, đề tài tiếp cận hệ thống y học cổ truyền qua các công trình kinh điển của Việt Nam như "Nam dược thần hiệu", "Hồng nghĩa giác tư y thư" của Tuệ Tĩnh; "Hải Thượng y tông tâm lĩnh" của Lê Hữu Trác; "Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam" của Đỗ Tất Lợi; "Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc" của Vũ Văn Chuyên; "Từ điển cây thuốc Việt Nam" của Võ Văn Chi và dữ liệu điều tra của Viện Dược liệu (Bộ Y tế). Khóa luận cũng liên hệ với Sách đỏ Việt Nam và danh mục loài bị đe dọa của IUCN để làm nổi bật tính cấp bách của bảo tồn dược liệu.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa điều tra xã hội học nông thôn, khảo sát thực địa lâm nghiệp và xử lý dữ liệu nội nghiệp:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Kế thừa số liệu điều tra tự nhiên, kinh tế - xã hội năm 2014 từ Ủy ban nhân dân xã Cán Tỷ; các chính sách bảo trợ và hỗ trợ nông thôn (Nghị định 74/2013/NĐ-CP, Nghị định 67/CP, Quyết định 1883 của UBND tỉnh Hà Giang); các báo cáo khoa học và tài liệu chuyên ngành liên quan.
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp và phương pháp ngoại nghiệp:
    • Phương pháp PRA (Đánh giá nông thôn có sự tham gia): Tiến hành phỏng vấn bán cấu trúc các đối tượng then chốt (già làng, trưởng thôn, thầy lang bốc thuốc lâu năm, người cao tuổi, người thường xuyên đi rừng) và phỏng vấn hộ gia đình. Điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên $n = 30$ hộ gia đình tại 3 thôn đại diện (Sủa Cán Tỷ, Lùng Vái, Đầu Cầu I) bằng phiếu câu hỏi thiết kế sẵn.
    • Phương pháp điều tra theo tuyến: Lập các tuyến điều tra thực địa đại diện đi qua các sinh cảnh rừng già, chân núi, sườn núi đá vôi, vách đá, thung lũng ẩm và nương rẫy. Tác giả cùng đi với thầy lang bản địa để kiểm chứng sự hiện diện của cây thuốc, thu mẫu tiêu bản thực vật, chụp ảnh và ghi nhận thông tin theo 2 biểu mẫu:
      • Mẫu biểu 01: Ghi nhận STT, Tên cây, Đặc điểm hình thái, Hình ảnh.
      • Mẫu biểu 02: Ghi nhận STT, Tên cây (Địa phương, Khoa học, Họ), Mùa khai thác, Cách khai thác, Bộ phận sử dụng, Công dụng chữa bệnh.
    • Phương pháp chuyên gia: Tham vấn các thầy lang địa phương, người am hiểu lâm sản ngoài gỗ và các giảng viên bộ môn thực vật học thuộc Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nhằm xác minh đặc tính sinh học và định danh loài.
  • Phương pháp nội nghiệp: Tổng hợp, xử lý các phiếu phỏng vấn, tính toán tỷ lệ phần trăm cơ cấu người thu hái và mức độ sử dụng; hệ thống hóa danh lục cây thuốc và các bài thuốc dân gian phục vụ biên soạn báo cáo.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày cơ sở lý luận về giá trị của tri thức bản địa, tiềm năng hệ thực vật làm thuốc của Việt Nam và thực trạng suy giảm dược liệu tự nhiên. Xác định mục đích, 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể cùng ý nghĩa khoa học và thực tiễn của khóa luận trong công tác bảo tồn nguồn gen cây thuốc gắn với quản lý rừng cộng đồng.

Phần 2: Tổng quan tài liệu và vấn đề nghiên cứu

Hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu dược thảo trên thế giới (từ nền văn minh Ai Cập cổ đại, Trung Quốc, Ấn Độ đến các công trình thực vật học hiện đại của Liên Xô, Pháp và WHO) và tại Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử.

Phần này phân tích chi tiết điều kiện khu vực nghiên cứu tại xã Cán Tỷ:

  • Điều kiện tự nhiên: Xã cách thị trấn Tam Sơn 12 km về phía Bắc, gồm 8 thôn bản (Đầu Cầu I, Đầu Cầu II, Suối Hồ, Lùng Vái, Sảng Cán Tỷ, Sủa Cán Tỷ, Pờ Chúa Lủng, Giàng Chu Phìn). Địa hình núi đá vôi chia cắt mạnh ở độ cao từ 1000 m đến 1500 m, độ dốc trung bình 40%, có sông Miện chảy qua tạo thành các thung lũng hẹp. Khí hậu nóng ẩm chia làm hai mùa rõ rệt, lượng mưa trung bình 1000 - 1500 mm tập trung vào tháng 6 - 7.
  • Điều kiện kinh tế - xã hội: Năm 2014, toàn xã có 914 hộ với 4.836 nhân khẩu; tỷ lệ hộ nghèo là 39,60% (362 hộ), hộ cận nghèo 24,51% (224 hộ), hộ trung bình 35,89% (328 hộ). Nông nghiệp chủ yếu trồng ngô (diện tích 462 ha, sản lượng 1.871,1 tấn), lúa mùa (77 ha, sản lượng 500,5 tấn), đậu tương (275,23 ha, sản lượng 444 tấn), cỏ chăn nuôi (197 ha), lạc (27 ha). Rừng thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn nhưng còn chịu áp lực lớn từ khai thác tự do.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định cụ thể đối tượng nghiên cứu là các loài thực vật làm thuốc bản địa của người Mông; địa bàn nghiên cứu tại xã Cán Tỷ trong thời gian từ 02/02/2015 đến 25/04/2015. Quy định 5 nội dung nghiên cứu trọng tâm và mô tả chi tiết quy trình thu thập thông tin sơ cấp (PRA, điều tra theo tuyến, Mẫu biểu 01 và 02), thông tin thứ cấp, phương pháp chuyên gia cùng các bước phân tích, xử lý dữ liệu nội nghiệp.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

Trình bày các phát hiện thực địa và số liệu điều tra thực tế tại xã Cán Tỷ:

  • Tình hình khai thác và sử dụng: Phân tích tỷ lệ sử dụng thuốc nam và cơ cấu giới tính tham gia thu hái từ 30 hộ điều tra. Trong số các hộ được khảo sát tại 3 thôn, chỉ có 14 hộ sử dụng thường xuyên và là những thầy lang có uy tín; việc truyền dạy bài thuốc chủ yếu qua hình thức gia truyền truyền khẩu.
  • Đặc điểm hình thái, sinh thái và công dụng của các loài cây thuốc tiêu biểu: Thống kê và mô tả chi tiết 55 loài cây thuốc bản địa được người Mông thu hái và sử dụng, bao gồm tên gọi bản địa bằng tiếng Mông, dạng sống (thân thảo, thân bụi, dây leo, thân gỗ), môi trường phân bố tự nhiên (núi đá vôi, rừng già ẩm, nương rẫy sau thu hoạch, hang đá, ven suối hoặc trồng quanh vườn nhà), bộ phận sử dụng (lá, thân, củ, rễ, vỏ, hoa, hạt) cùng phương thức chế biến trị liệu (sắc nước uống, giã nát băng bó, ngâm rượu, ninh với thịt/trứng, vò xát ngoài da).
  • Nguyên nhân suy giảm tài nguyên dược liệu: Xác định 4 nhóm nguyên nhân chính dẫn đến suy kiệt cây thuốc: khai thác ồ ạt bán cho thương nhân Trung Quốc; khai thác tận thu (đào cả rễ, củ, nhổ cả cây) không chú trọng tái sinh; thói quen đốt nương làm rẫy làm mất thảm thực vật; áp lực dân số gia tăng khiến diện tích rừng tự nhiên bị thu hẹp.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp được các kết quả điều tra định lượng và danh lục phân loại thực vật cụ thể tại địa bàn nghiên cứu.

Chỉ tiêu điều tra Phân loại Số lượng Tỷ lệ (%)
Mức độ sử dụng và thu hái ($n = 30$ hộ) Thường xuyên 14 hộ 46,67%
Không thường xuyên 16 hộ 53,33%
Cơ cấu giới tính người thu hái ($n = 30$ người) Nam giới 28 người 93,33%
Nữ giới 2 người 6,67%

Kết quả điều tra ghi nhận nam giới chiếm đa số tuyệt đối trong việc đi rừng thu hái và nắm giữ bí quyết chế biến thuốc (93,33%), trong khi nữ giới chỉ chiếm 6,67%.

Dưới đây là bảng tổng hợp một số loài cây thuốc tiêu biểu cùng công dụng chữa bệnh đặc trưng của người Mông tại xã Cán Tỷ được trích xuất từ khóa luận:

STT Tên cây (Tiếng bản địa/phổ thông) Dạng sống & Phân bố Bộ phận sử dụng Công dụng & Cách chế biến chính
1 Chò kế Cây thân thảo; mọc hoang dại ở nương rẫy dưới tán cây khác Cả cây Nhổ cả cây rửa sạch đun nước uống chữa đau bụng, đi ngoài.
2 Đích giống Cây thân thảo; mọc sát chân đá trên nương rẫy Cả cây Đun nước uống chữa viêm phổi.
3 Sâm đại hành Cây thân thảo cao 20-30 cm; trồng quanh nhà Thân, củ Ninh với thịt ăn chữa suy nhược cơ thể, vàng da; củ ngâm rượu chữa đau lưng mỏi gối.
4 Ấu tẩu Cây thân thảo có củ; trồng quanh nhà hoặc trên nương rẫy Củ Mài lấy nước bôi da chữa đau cứng bụng do viêm dạ dày; giã nát trị rắn cắn.
5 Bình vôi Dây leo có củ; mọc trong kẽ đá vôi cao trên 500 m Củ Đào củ đun uống chữa đi ngoài lỏng, lỵ có lẫn máu.
6 Quốc ló tra Cây thân bụi hóa gỗ cao 3-4 m; trồng quanh nhà Lá Vặt lá giã nát băng bó khi bị gãy xương, vết thương do dao cắt.
7 Một lá một hoa Cây thân thảo 1 lá; mọc trong hang đá, chân đá khô ráo Rễ Nhổ rễ đun nước uống chữa sốt cao ở trẻ nhỏ.
8 Hà thủ ô đỏ Cây dây leo có củ to màu đen; mọc sườn núi đá vôi Củ Ngâm rượu uống chữa thận yếu, tóc bạc sớm, sinh lý yếu.
9 Má chùa lành Cây dây leo thân sần sùi; mọc ở chân núi, vách đá lớn Thân Đập nát thân cây băng bó chữa đứt gân tay chân, bong gân.
10 Khà sông Cây thân bụi cao 4-5 m; mọc sườn núi nhiều nắng Thân, lá Cắt đun nước uống khi phụ nữ đau đẻ dữ dội hoặc khó đẻ.
11 Bìa lía Cây thân gỗ vỏ đỏ cao trên 5 m; mọc sườn núi đá vôi Vỏ cây Bóc tách vỏ đun nước uống chữa viêm loét dạ dày.
12 Đông ía Cây thân gỗ cao 10-15 m; mọc sườn núi đá vôi Vỏ, rễ Giã nát bôi ngoài da trị ghẻ lở, lang ben, hắc lào, nấm da.
13 Chúa cào già Cây thân thảo lá to; mọc rừng già hoặc trồng quanh nhà Thân Chẻ mỏng mảnh thân buộc băng bó chữa ung nhọt.
14 Chùa hở sớ Dây bò sát đất; mọc hoang dại trên nương rẫy Lá Vặt 2-3 lá đặt lên đỉnh đầu sản phụ khi sinh con bị sót nhau thai.
15 Chùa mùa mì Cây thân thảo có củ trắng; mọc ven suối, nghĩa địa Cả cây Ninh với thịt lợn ăn giúp tăng tiết sữa cho phụ nữ sau sinh.

Về giải pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc, tác giả đề xuất:

  • Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cộng đồng người Mông về vai trò của cây thuốc tự nhiên và bảo vệ rừng đầu nguồn.
  • Xây dựng quy ước thôn bản nhằm quản lý, kiểm soát hoạt động thu hái thương mại tự phát bán qua biên giới; chấm dứt tình trạng khai thác mang tính hủy diệt.
  • Khuyến khích người dân nhân giống và gây trồng bán tự nhiên các loài cây thuốc có giá trị cao quanh vườn nhà hoặc dưới tán rừng nhằm bảo tồn chuyển vị (ex-situ).
  • Gắn kết chặt chẽ chính sách giao đất giao rừng, cấp phát gạo bảo vệ rừng với chương trình phát triển lâm sản ngoài gỗ bền vững.

Đóng góp của nghiên cứu là bước đầu hệ thống hóa được 55 loài cây thuốc cùng nhiều bài thuốc dân gian đặc thù của người Mông tại xã Cán Tỷ, cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn cho công tác quản lý tài nguyên rừng và bảo tồn tri thức bản địa tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản khóa luận nêu rõ:

  • Do thời gian nghiên cứu tại thực địa có hạn (kéo dài gần 3 tháng), đề tài mới chỉ ghi nhận và mô tả được tên gọi cây thuốc bằng tiếng Mông địa phương; chưa giám định và tra cứu đầy đủ danh pháp khoa học (tên khoa học bằng tiếng Latinh và tên họ thực vật) cũng như tên gọi phổ thông tiếng Việt của toàn bộ các loài trong danh lục.
  • Số lượng hộ điều tra chọn mẫu dừng lại ở 30 hộ tại 3 thôn bản; việc điều tra tuyến gặp khó khăn do các loài cây thuốc phân bố rải rác, lẻ tẻ với số lượng cá thể rất ít trên địa hình núi đá vôi hiểm trở.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi điều tra trên toàn bộ 8 thôn bản của xã Cán Tỷ và các vùng lân cận thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn.
  • Phối hợp với các chuyên gia thực vật học và viện nghiên cứu chuyên ngành để giám định chính xác danh pháp khoa học, lập bảng đối chiếu tên phổ thông - tên khoa học cho toàn bộ các loài cây thuốc bản địa.
  • Tiến hành phân tích hóa sinh, xác định hoạt chất dược lý và đánh giá liều lượng, độc tính của các bài thuốc kinh nghiệm nhằm chuẩn hóa quy trình sử dụng an toàn và hiệu quả.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực đối với:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành: Lâm nghiệp, Nông lâm kết hợp, Quản lý tài nguyên rừng, Dược học cổ truyền, Thực vật dân tộc học (Ethnobotany) và Nhân học văn hóa.
  • Nội dung tham khảo giá trị:
    • Phương pháp kết hợp điều tra PRA với khảo sát tuyến thực địa trên địa hình núi đá vôi có sự tham gia của người dân bản địa.
    • Bộ dữ liệu thực địa mô tả hình thái, sinh cảnh phân bố, cách thu hái, sơ chế và chỉ định điều trị của 55 cây thuốc dân gian của người Mông.
    • Tài liệu tham chiếu cho các dự án bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển sinh kế phi gỗ tại vùng cao núi đá Hà Giang.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ nam giới và nữ giới tham gia thu hái cây thuốc tại xã Cán Tỷ có sự chênh lệch như thế nào?
Số liệu khảo sát 30 hộ tại 3 thôn bản cho thấy sự chênh lệch rất lớn: nam giới tham gia thu hái chiếm 93,33% (28 người), trong khi nữ giới chỉ chiếm 6,67% (2 người). Người am hiểu cách chế biến và bốc thuốc trong cộng đồng chủ yếu là nam giới cao tuổi và các thầy lang lâu năm.

2. Người Mông tại xã Cán Tỷ sử dụng những loài cây nào để điều trị các chấn thương về gân và xương khớp?
Khóa luận ghi nhận các loài tiêu biểu như: Má chùa lành (đập nát thân cây đắp chữa đứt gân, bong gân); Khà lía (giã nát lá đắp chữa đứt gân tay chân); Mò đông (giã lá với rượu rang ấm đắp chữa trật khớp, đau khớp); Quốc ló tra (giã nát lá đắp chữa gãy xương); và Chùa mót chề (giã nát bôi ngoài da chữa đau mỏi khớp, vai gáy).

3. Khóa luận ghi nhận những bài thuốc dân gian nào liên quan đến sản khoa và phụ khoa?
Đồng bào sử dụng các cây như: Khà sông và Sư tò (đun nước uống giúp giảm đau dữ dội, hỗ trợ sinh nở nhanh và dễ đẻ); Chùa hở sớ (vặt 2-3 lá đặt lên đỉnh đầu sản phụ khi bị sót nhau thai); Xít chít (đun uống hồi phục cơ thể phụ nữ sau sinh do mất máu, mất sức); Chùa mùa mì (ninh cả cây với thịt lợn ăn giúp tăng tiết sữa); Pà đỡ (đun lá uống chữa đau bụng kinh dữ dội); và Lảo đù (đun lá uống chữa chậm kinh hoặc kinh nguyệt không đều).

4. Tỷ lệ hộ nghèo và điều kiện kinh tế của xã Cán Tỷ tại thời điểm nghiên cứu (năm 2014) ra sao?
Xã Cán Tỷ là xã thuần nông vùng III đặc biệt khó khăn. Toàn xã có 914 hộ với 4.836 nhân khẩu; trong đó tỷ lệ hộ nghèo chiếm 39,60% (362 hộ), hộ cận nghèo chiếm 24,51% (224 hộ) và hộ trung bình chiếm 35,89% (328 hộ).

5. Vì sao phần lớn các loài cây thuốc trong kết quả nghiên cứu chỉ có tên tiếng Mông địa phương mà chưa có tên khoa học đầy đủ?
Do thời gian thực hiện đề tài giới hạn (từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2015) và các loài phân bố rải rác trên núi đá cao hiểm trở, tác giả chỉ kịp thu thập đặc điểm hình thái, ghi nhận tên bản địa từ các thầy lang và người dân dẫn đường, chưa đủ điều kiện giám định mẫu vật chuyên sâu để xác định danh pháp tiếng Latinh và tên phổ thông cho toàn bộ danh lục.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Dương Minh Xuân đã phản ánh toàn diện thực trạng khai thác và sử dụng cây thuốc của cộng đồng người Mông tại xã Cán Tỷ, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang thông qua phương pháp đánh giá có sự tham gia và điều tra thực địa theo tuyến. Công trình đã mô tả cụ thể đặc điểm hình thái, phân bố và kinh nghiệm chữa bệnh của 55 loài cây thuốc bản địa, đồng thời chỉ rõ sự suy giảm tài nguyên do khai thác tự phát và mất rừng. Các giải pháp bảo tồn nguyên vị, bảo tồn chuyển vị và nâng cao nhận thức cộng đồng được đề xuất là cơ sở thực tiễn quan trọng nhằm giữ gìn tri thức bản địa và phát triển bền vững nguồn dược liệu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn.