Đặt vấn đề Tri thức bản địa là một trong những thành tố quan trọng góp phần tạo nên bản sắc văn hóa của tộc ngƣời, là tài sản trong quá trình phát triển, phản ánh mối quan hệ của mỗi cộng đồng với môi trƣờng tự nhiên và xã hội. Kinh nghiệm phát triển của nhiều quốc gia đã chỉ ra một thực tế, tri thức khoa học hiện đại chƣa đáp ứng đủ những thách thức về kinh tế - văn hóa - môi trƣờng - xã hội. Trong khi đó, với những ƣu điểm đã đƣợc chọn lọc và bảo tồn trong một thời gian lâu dài, tri thức bản địa đã đem lại những hiệu ứng tích cực trong quá trình phát triển của xã hội. Trong thời gian gần đây, thực vật là đối tƣợng đặc biệt đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm và cố gắng đánh giá đúng vị trí, vai trò, chức năng sử dụng của nó trong nhiều lĩnh vực nhƣ thức ăn, thuốc chữa bệnh, trang phục, dụng cụ, các nghi lễ tôn giáo, môi trƣờng… ở từng vùng từng địa phƣơng khác trên thế giới.
Trong đó, cây thuốc đƣợc các nhà khoa học nghiên cứu nhiều nhất. Nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, Việt Nam đƣợc đánh giá là nƣớc đứng thứ 16 trên thế giới về sự phong phú, đa dạng sinh vật, trong đó độ đa dạng về cây cỏ khoảng 10.386 loài thực vật có mạch đã đƣợc xác định, dự đoán có thể tới 12.000 loài, trong số này, nguồn tài nguyên cây thuốc chiếm khoảng 30%. Nằm tại khu vực giao lƣu các nền văn hóa ở các nƣớc Đông Nam Á, Việt Nam còn là quốc gia đa dạng về các nền văn hóa của 54 dân tộc anh em sinh sống trên khắp lãnh thổ Việt Nam. Với mức độ đa dạng về hệ thực vật và văn hóa nhƣ vậy, chúng ta đang đƣợc kế thừa một kho tàng tài nguyên cây thuốc quý giá của các cộng đồng dân tộc khác nhau sử dụng trong công tác chăm sóc sức khỏe và phát triển kinh tế.
2 Mặc dù mang lại nhiều lợi ích nhƣ vậy nhƣng đến nay các loài cây làm thuốc vẫn chƣa đƣợc quan tâm khai thác, bảo tồn và phát triển một cách bền vững. Mặt khác, các loài thực vật đƣợc thu hái trong tự nhiên ít khi đƣợc gây trồng tại vƣờn nhà nên ngƣời dân đã khai thác một cách quá mức một số loài không còn khả năng tái sinh. Vì vậy chúng ta cần phải có những phƣơng pháp bảo tồn và phát triển các thực vật làm thuốc có giá trị trong tự nhiên. Cán Tỷ là một xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, nhƣng đƣợc thiên nhiên ƣu đãi cho hệ sinh thái rừng đa dạng, phong phú trên núi đá vôi.
Tuy nhiên do diện tích đất nông nghiệp ít, chủ yếu là đất lâm nghiệp bao gồm đất có rừng và chƣa có rừng chiếm một tỷ lệ rất cao không đáp ứng đủ nhu cầu về lƣơng thực thực phẩm nên ngƣời dân chủ yếu phụ thuộc vào tài nguyên rừng đặc biệt là các loài thực vật làm thuốc. Cùng với sự gia tăng dân số một cách nhanh chóng thì nguồn tài nguyên cây thuốc đang bị khai thác bừa bãi dẫn đến suy giảm hệ thực vật và nguy cơ nhiều loài cây thuốc quý hiếm sẽ bị tuyệt chủng. Để phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp cũng nhƣ góp phần bảo tồn đa dạng sinh học, đa dạng nguồn gen,bảo tồn những tri thức bản địa quý báu đƣợc tích góp từ hằng ngàn năm thì việc thống kê, hệ thống hóa nguồn tài nguyên cây thuốc là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết nhằm sử dụng một cách khoa học và hiệu quả trong tƣơng lai. Xuất phát từ yêu cầu trên, đƣợc sự đồng ý của khoa Lâm nghiệp – Trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Tôi tiến hành thực hiện khóa luận: “Tìm hiểu tri thức bản địa trong việc sử dụng các loài thực vật làm thuốc của đồng bào dân tộc Mông tại xã Cán Tỷ - huyện Quản Bạ - tỉnh Hà Giang” nhằm khai thác tiềm năng, thống kê thêm một số loài thực vật rừng đƣợc sử dụng trong các bài thuốc, tìm ra phƣơng án phù hợp để bảo tồn và phát triển các cây thuốc có giá trị của ngƣời Mông. Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu kiến thức bản địa và kinh nghiệm của đồng bào dân tộc Mông trong việc sử dụng các loài thực vật làm thuốc góp phần bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gen cây thuốc tại xã Cán Tỷ - huyện Quản Bạ - tỉnh Hà Giang. Mục tiêu nghiên cứu Để thực hiện đƣợc mục đích của nghiên cứu thì các mục tiêu sau đây đƣợc thực hiện: - Đánh giá đƣợc thực trạng và mức độ sử dụng các loài thực vật làm thuốc của cộng đồng ngƣời Mông. - Xây dựng đƣợc danh lục các loài thực vật rừng đƣợc ngƣời dân sử dụng để làm thuốc chữa bệnh theo kinh nghiêm truyền thống.
- Lựa chọn đƣợc một số bài thuốc, cây thuốc hay và quan trọng để nhân rộng và bảo tồn trên cơ sở lựa chọn có sự tham gia của ngƣời dân. - Tìm hiểu đƣợc một số bài thuốc dân gian, công dụng chữa bệnh từ rễ, thân, lá, hoa, quả hay hạt một cách an toàn và có hiệu quả cao. Ý nghĩa của khóa luận 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Vận dụng những kiến thức trong quá trình học tập ở trƣờng vào thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu.
- Rèn luyện phƣơng pháp tiếp cận và thu thập thông tin từ cộng đồng. Biết cách phân tích, xử lý thông tin thu đƣợc và kỹ năng làm việc với cộng đồng. - Bƣớc đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, đồng thời sau khi hoàn thành khóa luận có thể làm tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu sâu hơn trong sử dụng bền vững các loài thực vật làm thuốc của cộng đồng các dân tộc thiểu số. Ý nghĩa trong thực tiễn và sản xuất - Đánh giá đƣợc hiện trạng khai thác và sử dụng các loài thực vật làm thuốc trong cộng đồng.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở khách quan nhất trong việc đề xuất giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng một cách bền vững. - Làm cơ sở cho việc bảo tồn và phát triển các cây thuốc quý hiếm có giá trị kinh tế cao. - Góp phần nâng cao nhận thức của ngƣời dân trong việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lợi từ rừng. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở khoa học Trong giai đoạn hiện nay vấn đề đặt ra để phát triển bền vững luôn cần phải kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, kết hợp giữa tri thức bản địa của cộng đồng và tri thức khoa học. Tri thức bản địa đã và đang góp phần quan trọng trong việc ổn định đời sống cộng đồng, do đó cần thiết phải nghiên cứu bảo tồn và phát huy giá trị tri thức bản địa. Việc dùng thuốc trong nhân dân ta đã có từ rất lâu đời. Thời nguyên thủy tổ tiên chúng ta trong lúc tìm kiếm thức ăn, có khi ăn phải chất độc nôn mửa, hôn mê, thậm chí chết ngƣời hoặc tích tụ trong cơ thể đến một lúc nào đó phát bệnh.
Dần dần họ nhận thức đƣợc cây nào ăn đƣợc, cây nào không ăn đƣợc và họ biết lợi dụng tính chất này để làm thức ăn hay thuốc chữa bệnh. Với diện tích rừng tƣơng đối lớn, Việt Nam có nhiều loài lâm sản ngoài gỗ có giá trị với 2.000 loài lâm sản ngoài gỗ là cây thân gỗ; 3000 loài cho dƣợc liệu; 400 loài cho lƣơng thực, thực phẩm, thức ăn gia súc; 500 loài cho tinh dầu, lâm sản ngoài gỗ đƣợc coi là lĩnh vực có vị trí quan trọng trong ngành lâm nghiệp. Lâm sản ngoài gỗ gắn liền với cuộc sống của 24 triệu đồng bào miền núi sống trong và gần rừng, có nơi nguồn thu từ lâm sản ngoài gỗ chiếm 10-20% trong thu nhập kinh tế hộ gia đình. Gây trồng lâm sản ngoài gỗ trên diện tích đất lâm nghiệp đƣợc giao hoặc khai thác, thu hái lâm sản ngoài gỗ từ rừng tự nhiên và chế biến lâm sản ngoài gỗ đã thu hút hàng vạn lao động khu vực nông thôn.
Theo thống kê chƣa đầy đủ, tính đến năm 2014, có khoảng 36/63 tỉnh gây trồng, thu hái lâm sản ngoài gỗ với diện tích 1,6 triệu ha, chiếm 13% diện tích đất có rừng trong phạm vi toàn quốc, trong đó diện tích lâm sản ngoài gỗ có khả năng khai thác, thu hái từ rừng tự nhiên là 1,1 triệu ha, diện tích lâm sản ngoài gỗ đƣợc trồng là 469. 5 Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), khoảng 80% dân số hiện nay trên thế giới vẫn dựa vào thuốc có nguồn gốc tự nhiên trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Trong tuyên ngôn Alma Alta năm 1978 và “Hướng dẫn đánh giá y học cổ truyền” năm 1991, WHO luôn khuyến nghị dùng các thuốc cổ truyền vào chăm sóc sức khỏe ban đầu, đánh giá mức độ an toàn và hiệu quả cũng nhƣ bảo đảm nguồn cung cấp những thuốc này. Đến nay ngƣời ta đã thu thập đƣợc 40.000 bài thuốc kinh nghiệm của đồng bào trên khắp các miền, nhƣng khi con ngƣời phát hiện đƣợc giá trị của các hợp chất thiên nhiên thì cũng là lúc môi trƣờng bị ô nhiễm nghiêm trọng, cân bằng sinh thái bị phá vỡ và các tài nguyên thiên nhiên đã bị cạn kiệt đây không chỉ là thách thức đối với một vùng miền mà là vấn đề đang đặt ra đối với toàn cầu.
Trong sách đỏ Việt Nam ghi nhận 325 loài thực vật quý hiếm đã ở tình trạng cần bảo vệ thì cây thuốc có 128 loài (chiếm 38,2%) chắc chắn con số này sẽ tăng nhanh và danh sách các loài thuốc quý hiếm đang cạn kiệt dần còn nhiều hơn. Để đảm bảo nguồn nguyên liệu cây thuốc đáp ứng đƣợc nhu cầu hiện tại và cả trong tƣơng lai thì cần chú ý song song giữa việc khai thác trong tự nhiên đảm bảo tái sinh với việc nghiên cứu gây trồng các loài cây con làm thuốc. Tình hình nghiên cứu và sử dụng thực vật làm thuốc trên Thế giới và ở Việt Nam 2. Trên thế giới Tri thức bản địa đóng góp cho khoa học trong nhiều lĩnh vực liên quan đến việc quản lý tài nguyên thiên nhiên qua các nghiên cứu về thực vật - dân tộc học hiện đại.
Cụ thể là tri thức bản địa đã giúp các nhà khoa học nắm đƣợc những vấn đề về đa dạng sinh học và quản lý rừng tự nhiên.