mở đầu cuộc khùng hoảng của TTCK Nevv York, từ đó cuộc khủng hoảng kéo sang các TTCK Tây Âu, Bắc Âu và Nhật Bản. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, các TTCK cũng phục hồi và phát triển ' Tủi da (ví tiền) gọi theo tiếng Latinh là Bursa, gọi theo tiếng Pháp la Buorsc Chữ Buorse có nghĩa là “mậu dịch thị trường” hay “Sờ giao dịch”, được xem nhu \uât xứ \ á tro thành tên gọi Thị trường chứng khoán. Cuộc khùng hoảng tài chính bắt đầu từ “Ngày thứ sáu đen tối”- ngày 19/10/1987- một lần nữa đã làm cho TTCK thế giới chao đào và suy sụp do hệ thống thanh toán kém cỏi, không đảm đương đuợc yêu cầu của giao dịch, sụt giá chứng khoán, mất lòng tin của nhà đầu tư và phản ứng dây chuyền. Cuộc khủng hoảng này đề lại hậu quả nghiêm trọng hơn cuộc khủng hoảng năm 1929.
Nhưng chi sau hai năm, TTCK thế giới tiếp tục đi vào hoạt động ổn định và phát triển. Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới 2008 gây ra nhiều hệ lụy cho TTCK thế giới về mô hình tổ chức, tốc độ phát triển, mối quan hệ với các trung gian tài chính ưong điều kiện toàn cầu hóa sâu rộng của thế kỷ XXI. Cứ mỗi lần khủng hoảng như vậy, giá chúng khoán của các TTCK trên thế giới sụt giảm ở các mức độ khác nhau, gây ra sự ngừng trệ cho TTCK toàn cầu và ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế của mỗi quốc gia. Song trài qua các cuộc khủng hoảng, cuối cùng TTCK lại phục hồi và tiếp tục phát ừiển, trở thành một thể chế tài chính không thể thiếu được trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường.
Cho đến nay, TTCK đã phát triển và trở thành một định chế tài chính không thể thiếu được trong đời sống kinh tế của những nước có nền kinh tế thị truờng phát triển như Anh, Mỹ, Nhật, Đức, Pháp,. và nhắt là những rnrớc đang phát triển cần thu hút luồng vốn trung và dài hạn cho nền kinh te quốc dân. Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin, các phương thức giao dịch ờ các Sở GDCK củng được cải tiến dần theo tốc độ và khối lượng yêu cầu nhằm đem lại hiệu quả và chất lượng cho giao dịch, các Sở giao dịch đã dần dần sử dụng máy vi tính để truyền các lệnh đặt hàng và chuyển dần từ giao dịch thủ công kết họp với máy vi tính sang sử dụng hoàn toàn hệ thống giao dịch điện tử thay cho giao dịch thù công trước kia. Khái niệm thị trưừng chứng khoán TTCK là một bộ phận của thị trường tài chính, thực hiện chức năng cung ứng vốn cho nền kinh tế thông qua cơ chế chuyển vốn trực tiếp từ 14 mà đầu tư sang nhà phát hành.
Để huy động được các nguồn vôn ừong ren kinh tế, bên cạnh việc đi vay ngân hàng thông qua các hinh thức tài C1ÚÜ1 gián tiếp, chính phù và một số công ty thục hiện huy dộng vốn tlông qua phát hành các chứng khoán. Khi một bộ phận các chứng khoán ci giá trị nhất định được phát hành thì tất yếu sẽ nảy sinh nhu cầu về nua bán, trao đổi các chímg khoán đó. Vì vậy T IC K đà ra đơi nhảm đáp íng nhu cầu mua bán, trao đổi chứng khoán. Xét về mặt hình thức, TTCK là nơi diễn ra giao dịch mua bán.
trao đài, chuyển nhượng các loại chứng khoán (trái phiếu, cô phiêu chưng chi qiỹ đầu tư, hợp đồng tương lai, quyền chọn, bảo chứng phiêu, chứng qayền,.) nhằm mục đích sinh lợi, qua đó thay đổi chù thê nắm giữ ciímg khoán. Xét về mặt bản chất, TTCK thể hiện một số điểm sau: - TTCK được đặc trưng bời hình thức chính trực tiếp: người cần vốn và người có khả năng cung ứng vốn đều trực tiếp tham gia vào thị tniờng, giũa họ không có các trung gian tài chính. Qua kênh tài chính tiực tiếp, các chủ thể đầu tư đã thực sự gắn quyền sử dụng và quyền sở hju về vốn, nâng cao tiềm năng quàn lý vốn. - TTCK là thị trường gần với thị trường cạnh tranh hoàn hảo: Tất C1 mọi người đều có thề tham gia vào thị trường, không có sự áp đặt giá cá trên TTCK mà giá cả chứng khoán được xác định theo quan hệ cung cìu trên thị trường, tự do tham gia và rút khỏi thị trường và minh bạch ttông tin.
- TTCK về cơ bản là một thị truờng liên tục: Sau khi các chứng laoán được phát hành trên thị trường sơ cấp, chúng có the đuợc mua bán vài lần trên thị trường thứ cấp. Điều này đảm bảo cho những ngươi đầu tư co thể chuyển các chứng khoán mà họ nắm giữ thành tiền bảt cứ lúc nào. Chức năng của thị trưỉmg chứng khoán ỉ. Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sàn xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội.
Bằng cách hỗ trợ các hoạt động đầu tư của công ty, TTCK đã có những tác động quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Thông qua TTCK, chính phủ và chính quyền ờ các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội. Cung cấp cơ hội đầu tư cho công chúng Trước khi có TTCK, nhà đầu tu có tiền nhàn rỗi thường đến các NHTM để gửi tiền tiết kiệm và lãi suất ngân hàng là khuyến khích duy nhất đối vói nhà đầu tư. Sau khi có TTCK, người gửi tiết kiệm có thêm một con đirờng nữa hấp dẫn hom cho tiền tiết kiệm.
Họ không còn phải phụ thuộc vào lãi suất tiền gửi của các NHTM với những chênh lệch không đáng kể nữa mà có những lựa chọn khác nhau với những lãi suất khác nhau của các cổ phiếu và ừái phiếu. TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoản trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn cho loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sờ thích của mình. Chính vi vậy, TTCK góp phần đáng kể làm tăng mức tiết kiệm quốc gia.
Tạo tính thanh khoản cho các khoản đầu tư Nhờ có TTCK các nhà đầu tu có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn. Khả năng thanh khoản (khả năng chuyển đổi thành tiền mặt) là m ột trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư. Đây là 16 yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn cùa vốn đầu tư. Việc mua đi bán lại các chứng khoán này không tạo thêm nguồn vốn mới cho chủ thể phát hành mà chi là sự thay đổi quyền sở hữu đối với chứng khoán.
Tính thanh khoản của các chứng khoán phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhu thủ tục, phí thực hiện, thời hạn còn lại của chứng khoán và yếu tố thị trường. TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì càng có khả năng nâng cao tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch ừên thị trường. Đánh giá hoạt động cùa doanh nghiệp và nền kinh tế Thông qua giá chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phán ảnh một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của các doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quà sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mói, cải tiến sàn phẩm. Các thị giá chứng khoán được thể hiện thường xuyên ừên thị trướng đã phán ánh giá trị phần tài sản Có của doanh nghiệp trên cơ sở đánh giá thực trạng của doanh nghiệp, mức độ đầu tư, trạng thái kinh tế.
Chi có những doanh nghiệp làm ăn mạnh, có hiệu quả cao, hứa hẹn triển vọng tương lai tốt thì giá trị thị trương của chứng khoán công ty mới cao và ngược lại. Các chi số chứng khoán đuợc tạo ra bang nhiều cách khác nhau nhằm cung cấp những thông tin về tình trạng tốt hay xấu của TTCK cho các nhà đầu tư. Chi số chứng khoán tăng có nghĩa là giá trung bình của các cổ phiếu tăng, tức là tình ữạng sàn xuất của các công ty có cổ phiếu được tính trong chi số chứng khoán đang phát đạt, nhiều người muốn đầu tư vào lĩnh vực đó. Ngoài sự đánh giá các doanh nghiệp, TTCK còn là phong vũ biểu của nền kinh tế, giúp những nguời đầu tư và những người quản lý có cơ sở đánh giá thực ừạng và dự đoán tuơng lai của nền kinh tế.
Diễn biến 17 của thị giá chứng khoán và khái quát hon là chi số chứng khoán đà phản ánh thông tin đa dạng và nhiều chiều cho người đầu tư trước diễn biến của các rủi ro. Các chi báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chính xác. Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trường; và ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế. TTCK còn phản ứng rất nhạy cảm tnrớc các chính sách kinh tế vĩ mô, các biến động cùa nền kinh tế.
Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách và quản lý thường thông qua TTCK đề phân tích, dự đoán, đề ra các chính sách điều tiết kinh tế và phương pháp quàn lý kinh tế thích hợp, qua đó tác động tới các hoạt động của nền kinh tế quốc dân. Tạo môi trường giúp chính phù thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô TTCK được coi là một công cụ quan trọng giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. TTCK tạo điều kiện cho chính phủ huy động các nguồn tài chính mà không tạo áp lực về lạm phát, đồng thời tạo điều kiện cho chính phủ thực hiện các chính sách tài chính tiền tệ. Khi Ngân sách thu không đủ bù chi, chính phủ có thể bù đắp thâm hụt Ngân sách bằng hai cách: Phát hành tiền hoặc đi vay nợ.
Chính phù có thể phát hành tiền để bù đắp thiếu hụt ngân sách nhưng sẽ gây nên áp lực lam phát, có thể gây ảnh hirởng xấu đến nền kinh tế. Thông qua TTCK, chính phủ có thể phát hành ừái phiếu chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách mà vẫn quản lý được lạm phát.