chương 1 - Về kiến thức: Người học hiểu các kiến thức cơ bản; khái niệm chung về kinh doanh, đối tượng nhiệm vụ của tâm lý học kinh doanh, phương pháp nghiên cứu Tâm lý học kinh doanh và các lý thuyết tiếp cận trong tâm lý học kinh doanh - Về kỹ năng: Sau khi học xong, người học phân tích, đánh giá được các hướng tiếp cận trong tâm lý kinh doanh. Vận dụng kiến thức vào việc mua, bán hàng - Về thái độ: Hình thành thái độ tích cực khi nhìn nhận về con người, về các mối quan hệ người - người, có niềm tin vào bản thân mình để thành công trong kinh doanh. NỘI DUNG Con người không thể tách rời kinh doanh, cũng giống như cá không thể tách rời nước. Kinh doanh là một “cuộc chiến” không có súng đạn, là tiêu chí để phân biệt loài người với những động vật khác, giúp con người tồn tại phát triển.
Có người nói; nhân tài chưa chắc đã giỏi kinh doanh nhưng phàm đã là người kinh doanh thành đạt thì nhất định là nhân tài. Các nhà kinh doanh chỉ có trở thành những người thành đạt nhất khi họ nắm bắt được tâm lý con người trong môi trường hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong kinh doanh có vô số những nhân tố thúc đẩy sự thành bại; tài mua, tài bán, tài quảng cáo sản phẩm…là biểu hiện của năng lực tổng hợp, là điều kiện tiên quyết cho sự thành bại. Yếu tố con người được đánh giá cao nhất vì kinh doanh, giao dịch chỉ xuất hiện trong xã hội loài người, chỉ con người mới có các hoạt động tư duy, tâm lý riêng biệt.
Mỗi cá nhân đều là một phần của thị trường, có một góc nhìn chủ quan riêng về thế giới xung quanh, có hoàn cảnh riêng, từ đó có những cảm nhận riêng, tâm lý riêng. 7 Việc nghiên cứu tâm lý kinh doanh chính là một phương hướng tìm hiểu con người và thị trường trong kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu và nâng cao chất lượng đời sống của con người. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ TÂM LÝ HỌC KINH DOANH 1. Khái niệm tâm lý học kinh doanh Trong giai đoạn phát triển của khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện nay thì “yếu tố con người” được chú trọng.
Các ngành tâm lý học nghiên cứu về con người ngày càng ra đời nhiều hơn. So với một số chuyên ngành tâm lý học khác, tâm lý học kinh doanh ra đời muộn hơn. Khi đã ra đời thì nó ứng dụng tri thức của các chuyên ngành tâm lý khác như: tâm lý học đại cương, tâm lý học xã hội, tâm lý học lao động… vào hoạt động của doanh nghiệp. Tâm lý học trong kinh doanh cung cấp cho người học những hiểu biết nền tảng về các hiện tượng và quy luật tâm lý cơ bản của con người.
Trên cơ sở đó giúp người học nhận biết cơ chế vận hành tâm lý của con người trong hoạt động kinh doanh, từ đó giúp các nhà kinh doanh quản lý nhân viên, lựa chọn đối tác, nghiên cứu tâm lý khách hàng để đưa ra các chiến lược về giá cả, phân phối, quảng cáo thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm. Khái niệm tâm lý Theo từ điển Tiếng Việt (1998): “Tâm lý là ý nghĩ, tình cảm… làm thành đời sống nội tâm, thế giới bên trong của con người”. Tâm lý bao gồm tất cả các hiện tượng tinh thần xảy ra trong đầu óc con người, gắn liền và điều hành mọi hoạt động của con người: thế giới khách quan tồn tại bằng các thuộc tính không gian, thời gian và luôn vận động, bộ não người là tổ chức cao nhất của vật chất tạo ra “hình ảnh tâm lý”. Tâm lý có sức mạnh to lớn.
Năm 1902, nhà bác học Cô-phen-hap, người Đan mạch, đã làm thí nghiệm trên một tử tù và chứng minh rằng con người có thể tự ám thị mình và giết chết bản thân chỉ trong một thời gian ngắn. Tâm lý có thể giúp con người tăng thêm sức mạnh, vượt qua khó khăn để đi đến thành công, cũng có thể khiến con người trở nên yếu ớt, bạc nhược và thất bại. Tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người thông qua chủ thể. 8 Tâm lý người có bản chất xã hội - lịch sử: con người có nguồn gốc từ thế giới khách quan, sự hình thành phát triển, biến đổi cùng với sự phát triển của lịch sử cá nhân, cộng đồng và dân tộc.
Như vậy, tâm lý là những hiện tượng tinh thần xảy ra trong đầu óc con người, gắn liền và điều hành mọi hoạt động của con người. Khái niệm tâm lý học Tâm lý học nghiên cứu tâm trí và hành vi, là một ngành khoa học mang tính học thuật và ứng dụng, với mục đích nghiên cứu nhằm hiểu rõ cá nhân và nhóm bằng cách thiết lập những nguyên tắc chung và quan sát những trường hợp cụ thể. Người có chuyên môn ứng dụng hoặc nghiên cứu hàn lâm trong lĩnh vực này được gọi là nhà tâm lý học, hoặc có thể được phân loại riêng thành nhiều ngành như nhà nghiên cứu xã hội, nhà nghiên cứu hành vi hay nhà nghiên cứu nhận thức. Nhiệm vụ của nhà tâm lý học là tìm cách hiểu rõ vai trò của chức năng tâm thần (mental function) trong hành vi (mang tính cá nhân hay xã hội), cùng với việc khám phá những quá trình vật lý và sinh lý, cái làm nền tảng cho chức năng và hành vi nhận thức.
Nhà tâm lý học tìm cách khai phá những khái niệm như tri giác, nhận thức, chú ý, cảm xúc, trí tuệ, động cơ, chức năng não, tính cách, hành vi, mối quan hệ cá nhân, phục hồi tâm lý và những khái niệm có liên quan khác. Trạng thái tâm trí vô thức cũng được nghiên cứu và xem xét trong tâm lý học. Nhà tâm lý học sử dụng những phương pháp luận của chủ nghĩa kinh nghiệm để diễn giải mối quan hệ nhân quả và tương quan giữa những đối tượng tâm lý độc lập và phụ thuộc. Một số nhà tâm lý học lâm sàng và tư vấn tâm lý còn dựa vào phương pháp luận của chủ nghĩa phủ định (Hermeneutics/ antipositivism) và chủ nghĩa chiết trung (phương pháp luận quy nạp).
Tâm lý học được miêu tả như một bộ môn khoa học trung tâm, với những khám phá trong ngành có giá trị trực tiếp đến những nghiên cứu và quan điểm của những bộ môn khoa học xã hội khác như kinh tế học hay xã hội học. Kiến thức tâm lý học được ứng dụng đánh giá tâm lý hay trị liệu cho các vấn đề sức khỏe tâm thần, đồng thời trực tiếp hỗ 9 trợ việc nắm bắt, xử lý những vấn đề thuộc về hành vi và hoạt động của con người. Tóm lại, tâm lý học là ngành khoa học nghiên cứu về tâm trí và hành vi của ý thức, vô thức và tư duy, tìm hiểu cá nhân và nhóm bằng cách thiết lập những nguyên tắc chung và nghiên cứu những trường hợp cụ thể. Dưới nhiều góc nhìn khác nhau, tâm lý học có một mục đích cuối cùng là mang lại ích lợi cho con người, xã hội, là khoa học nghiên cứu các hiện tượng tâm lý, những tư tưởng tâm lý học đã có từ thời xa xưa, gắn liền với lịch sử loài người.
Khái niệm kinh doanh Trong tiếng Anh thuật ngữ kinh doanh “business” là việc buôn bán, thương mại. Thuật ngữ kinh doanh được đưa vào tiếng Việt từ khá lâu, nhưng chỉ có vài chục năm lại đây mới được sử dụng một cách phổ biến trong đời sống xã hội. Hiện nay, các nhà nghiên cứu có nhiều cách hiểu khác nhau về kinh doanh. Theo từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên; kinh doanh là gây dựng, mở mang thêm, đầu tư vốn, tổ chức sản xuất, buôn bán, dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi.
Giáo sư Mai Hữu Khê cho rằng; kinh doanh là hoạt động để duy trì được sự phát triển lành mạnh, liên tục của doanh nghiệp. Theo phó giáo sư, tiến sĩ Đặng Danh Ánh thì kinh doanh là quá trình sản xuất, khai thác, chế biến và dịch vụ nhằm thu lợi nhuận theo khuôn khổ luật pháp quy định. Có thể nói, những quan điểm trên đều nhấn mạnh kinh doanh là một dạng hoạt động đầu tư vốn gồm một hoặc nhiều giai đoạn nhưng đều có mục đích chung là mang lại lợi nhuận cho con người. Nói tới kinh doanh là nhấn mạnh tính chất năng động, sáng tạo của nhà kinh doanh.
Căn cứ vào tình hình cung và cầu trên thị trường, nhà kinh doanh có thể đầu tư vốn vào một lĩnh vực nào đó nhằm phân phối, lưu thông, sản xuất, tiêu thụ hoặc môi giới để kiếm lời. Cách thức kinh doanh này có thể kiếm được nhiều lợi nhuận nhưng xét về tổng thể giá trị xã hội không cao đối với sự phát triển của đất nước, thậm chí có thể ảnh hưởng tới lợi ích của người tiêu dùng. Ngược lại, nếu nhà kinh doanh đầu tư vốn vào toàn bộ các giai đoạn hoạt động 10 kinh doanh thì sẽ tạo ra cơ hội phát triển bền vững cho dân tộc và có giá trị xã hội cao hơn. Kinh doanh ở khía cạnh sản xuất là mở các doanh nghiệp, nhà máy, công ty, nhằm tạo ra nhiều sản phẩm phục vụ nhu cầu của cá nhân và xã hội.
Kinh doanh ở khía cạnh dịch vụ, phân phối là hoạt động của các cửa hàng, đại lý, các công ty bán buôn, bán lẻ để phân phối sản phẩm tới người tiêu dùng thông qua khâu trung gian giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Ngày nay, để kinh doanh có hiệu quả doanh nghiệp không thể bỏ qua hoạt động marketing nhằm thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm dịch vụ của mình như; tiếp thị, quảng cáo và nghiên cứu thị trường. Mục đích của kinh doanh là tạo ra lợi nhuận cao nhất cho cá nhân và doanh nghiệp. Lợi nhuận trong kinh doanh là một khái niệm bao hàm cả lợi nhuận vật chất và lợi nhuận tinh thần.
Lợi nhuận vật chất trong kinh doanh gắn liền với các lợi ích kinh tế, tài chính, tiền bạc… thỏa mãn nhu cầu vật chất của con người., còn lợi nhuận tinh thần liên quan tới việc thỏa mãn các nhu cầu xã hội, nhu cầu tinh thần của con người như; uy tín của sản phẩm, uy tín của doanh nghiệp trên thị trường, sự đoàn kết và tính tích cực của các thành viên trong doanh nghiệp. Xã hội hiện đại không thể không nhắc đến vai trò của kinh tế và theo đó là các hoạt động kinh doanh trên khắp thế giới. Một đất nước phát triển luôn gắn tới hình ảnh kinh tế phát triển. Hoạt động kinh doanh trên thế giới hiện nay rất rộng lớn và sôi động.
Chỉ ở Việt Nam đã có hàng trăm ngàn doanh nghiệp hoạt động.