Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUY HOẠCH s ử DỤNG ĐẤT Mục tiêu cụ thể: Kiến thức: Hiểu được những kiến thức cơ bản về ca sở lý luận của quy hoạch sử dụng đất ở các cấp. Kỹ năng: Vận dụng được những kiến thức cơ bản về cơ sỏ lý luận đó trong công tác quản lý đất đai Thái độ: Học tập nghiêm túc, khách quan và khoa học. Nội dung tóm tắt: Vai trò của đất trong sự phát triển kinh tế - xã hội; khái niệm và đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất; căn cứ pháp lý của quy hoạch sử dụng đất; hệ thống quy hoạch sử dụng đất ở nước ta; nguyên tắc cơ bản của quy hoạch sử dụng đất; nhiệm vụ và nội dung quy hoạch sử dụng đất các cấp; trình tự lập quy hoạch sử dụng đất. VAI TRÒ CỦA ĐÂT TRONG s ự PHÁT TRIỂN k i n h t ê - XÃ HỘI 1.
N hững c h ứ c n ăn g ch ủ y êu củ a đâ't đai Khái niệm về đất đai gắn liền với nhận thức của con người về thế giới tự nhiên. Sự nhận thức này không ngừng thay đổi theo thời gian. Trong vòng 30 năm trở lại đây, trẽn nhiều diễn đàn người ta đã thừa nhận, đối với con người đất đai có những chức năng chủ yếu sau đây: a. Chức năng m ôi trường sống Đất đai là cơ sở của mọi hình thái sinh vật sống trên lục địa thông qua việc cung cấp các môi trường sống cho sinh vật và gen di truyền để bảo tồn cho thực vật, động vật và các cơ thể sống cả trên và dưới m ặt đất.
Chức năng sản xuất Đất đai là cơ sở cho rất nhiều hệ thống phục vụ cuộc sống con người qua quá trình sản xuất, cung cấp lương thực, thực phẩm và rất nhiều sản phẩm sinh vật khác cho con người sử dụng trực tiếp hay gián tiếp qua chãn nuôi gia súc, gia cầm và các loại thuỷ hải sản. Chức năng cán bằng sinh thái Đất đai và việc sử dụng nó là nguồn và là tấm thảm xanh, hình thành một thể cân bằng năng lượng trái đất, sự phản xạ, hấp thụ và chuyển đổi nãng lượng phóng xạ từ mặt trời và của tuần hoàn khí quyển địa cầu. Chức năng tùng trữ và cung cấp nguồn nước Đất đai là kho tàng lưu trữ nước mặt và nước ngầm vô tận, có tác động mạnh tới chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và có vai trò điều tiết nước rất to lớn. Chức năng d ự trữ Đất đai là kho tài nguyên khoáng sản cung cấp cho mọi nhu cầu sừ dụng của con người.
Chức năng không gian sự sông Đất đai có chức năng tiếp thu, gạn lọc, là môi trường đệm và làm thay đổi hình thái, tính chất của các chất thải độc hại. Chức nùng bảo tổn, bảo tàng lịch sử Đất đai là trung gian đế bảo vệ, bảo tồn các chúng cứ lịch sử, văn hoá cùa loài người, là nguồn thông tin về các điều kiện khí hậu, thời tiết trong quá khứ và cả về việc sử dụng đất đai trong quá khứ. Chức năng vật m ung sự sống Đất đai là không gian cho sự chuyển vận của con người, cho đầu tư, sản xuất và cho sự dịch chuyển của động vật, thực vật giữa các vùng khác nhau của hệ sinh thái tự nhiên. Vai trò củ a đất tron g s ự phát triển kinh tê '- xã hội 2.
Đất đai là một tư liệu sản xuất Đất đai là một phần diện tích cụ thể của bể mặt trái đất, bao gồm cả các yếu tố cấu thành môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đất như khí hậu, thổ nhưỡng, dạng địa hình, địa mạo, nước mặt (hổ, sông, suối đầm lầy) các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm , tập đoàn động thực vật trạn*1 10 thái định cư của con người, nhũng kết quả hoạt động của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hỗ chứa nước, hệ thống tiêu thoát nước, đường sá, nhà cửa.) Trong số những điều kiện vật chất cần thiết cho hoạt động sản xuất và đời sống của con người, đất với lớp phủ thổ nhưỡng, lòng đất, rừng và mặt nước chiếm vị trí đặc biệt. Đất là điều kiện đầu tiên và là nền tảng tự nhiên của bất kỳ một quá trình sản xuất nào. Chúng ta đều biết rằng, không có đất thì không thể có sản xuất, cũng như không có sự tồn tại của con người. Đất là sản phẩm của tự nhiên, xuất hiện trước con người và tồn tại ngoài ý muốn của con người.
Đất tồn tại như một vật thể lịch sử - tự nhiên. Đất là điểu kiện chung nhất của lao động, là đối tượng của lao động. Chí khi tham gia vào quá trình lao động, được kết hợp với lao động sống và lao động quá khứ thì đất mới trở thành một tư liệu sản xuất. Đổ thấy rõ điểu này, ta cần xem xét một quá trình lao động.
Một quá irình lao động bao giờ cũng cần có đủ ba yếu tố sau: - Một hoạt động có mục đích của con người (hay chính là bản thân lao động). - Một đối tượng chịu sự tác động của lao động. - Một công cụ mà con người dùng để tác động lên đối tượng lao động. Đối tượng chịu sự tác đông của lao động được gọi là đối tượng lao động.
Công cụ mà con người dùng để tác đọng lên đối tượng lao động được gọi là công cụ lao động (hay là tư liệu lao động). Cả đối tượng lao động và tư liệu lao động đều được gọi là tư liệu sản xuất. Như vậy, để có một quá trình lao động, cần phải có con người, có đối tượng lao động và phải có còng cụ lao động. Trong quá trình sản xuất, đất luôn luôn là đối tượng chịu sự tác động của con người.
Do đó, đất được coi là một tư liệu sản xuất. Vai trò đặc biệt của đất trong sản xuất nông nghiệp Đất đai là điều kiện vật chất cần thiết cho sự tồn tại của bất kỳ ngành sản xuất nào. Đ ất cần cho công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải v. nhưng trong mỗi ngành đất có vai trò không giống nhau.
Trong các ngành công nghiệp chế tạo, chế biến, đất chỉ đóng vai trò thụ động là cơ sở không gian, là nền tảng, là vị trí để thực hiện quá trình sản xuất. 11 Ở đây, quá trình sản xuất và hình thành sản phẩm không phụ thuộc vào tính chất và độ màu m ỡ của đất. Trong ngành công nghiệp khai khoáng, ngoài vai trò cơ sở không gian như trên, đất còn là kho tàng cung cấp các nguyên liệu quý giá cho con người. Nhưng ngay cả ở đây, quá trình sản xuất và chất lượng sản phẩm làm ra cũng không phụ thuộc vào chất lượng đất, mà phụ thuộc vào các quá trình kiến tạo địa chất đã diễn ra hàng triệu năm về trước.
Riêng trong nông nghiệp thì đ$i có vai trò khác hẳn. Với nông nghiệp, đất không chỉ là cơ sờ không gian, không chỉ là điều kiện vật chất cần thiết cho sự tồn tại của ngành sản xuất này mà đất còn là yếu tô' tích cực cùa sản xuất. Quá trình sản xuất nông nghiệp có liên quan chặt chẽ với đất, phụ thuộc rất nhiều vào độ phì nhiêu của đất, phụ thuộc vào các quá trình sinh học tự nhiên. Trong nông nghiệp, ngoài vai trò cơ sở không gian, đất còn tham gia tích cực vào quá trình sản xuất, cung cấp nước, không khí và các chất dinh dưỡng cần thiết để cây trồng sinh trưởng và phát triển.
N hư vậy, đất gần như trở thành một công cụ sản xuất. Năng suất và chất lượng sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào độ phì nhiêu của đất. Trong số tất cả các loại tư liệu sản xuất dùng tronc nông nghiệp, chỉ có đất mới có được chức năng này. Đáy là một tính năng rất đặc biệt của đất.
Đối với sản xuất nông nghiệp đất được coi là tư liệu sản xuất không thể thay thế. Chính vì vậy, có thể nói rằng đất đai là tư liệu sản xuất chù yếu và dặc biệt trong nông nghiệp. Sự khác biệt của đất so với các tư liệu sản xuất khác Tuy cũng được coi là một tư liệu sản xuất nhưng đất có những đặc tính khiến nó khác hẳn với những tư liệu sản xuất khác. Sự khác biệt đó thể hiện ờ những điểm sau đây: - Đặc tính quan trọng nhất của đất là độ phì nhiêu.
Đ ây là tính chất khiến nó khác hẳn với các tư liệu sản xuất khác. Độ phì là khả năng của đất có thể cung cấp cho cây trồng thức ăn, nước và những điều kiện khác cần thiết cho sự sinh trường yà phát triển của cây. Cần phân biệt 2 khái niệm độ phì: độ phì tự nhiên và độ phì kinh tế. Độ phì tự nhiên là kết quả của quá trình hình thành đất làu dài m à có.
Độ phì tự nhiên đặc trưng bởi các tính chất lý học, hoá học và sinh vật học trong đất, nó liên quan chặt chẽ với các điều kiện khí hậu. Đ ộ phì tự nhiên là cơ sờ 12 của độ phì kinh tế, nhưng nó chưa phải là chất lượng thực tế của đất. Trong đất có thể có rất nhiều chất dinh dưỡng, nhưng do nhiều nguyên nhân (thiếu hoặc thừa ẩm, nhiệt, không khí,.), lượng dinh dưỡng này tồn tại ở dạng không hấp thụ hoặc khó hấp thụ được đối với cây trồng. Độ phì kinh tế là độ phì mà con người có thể khai thác sử dụng được ở một trình độ phát triển sức sản xuất nhất định bằng cách gieo trổng những loại cây trổng khác nhau.
Con người luôn tìm cách tác động lên các tính chất lý học, hoá học và sinh học của đất đê độ phì tự nhiên chuyển từ độ phì tiềm tàng sang độ phì thực tế. - Mọi tư liệu sản xuất khác đều là sản phẩm của lao động (đều do con người tạo ra), còn úêng đất là sản phẩm của tự nhiên. Đất có trước lao động và là điều kiện thiên nhiên của lao động. Đất là cái nôi của sự sống, trong đó con người là đỉnh cao của sự tiến hoá.Cùng với sự phát triển của sức sản xuất, các tư liệu sản xuất khác tăng lên về số lượng và tốt hơn về chất lượng, riêng đất chỉ có số lượng giới hạn trong phạm vi ranh giới của lục địa.
- Đất là tư liệu sản xuất có vị trí không thể thay đổi trong không gian. Đày là một tính chất rất đặc thù của đất, làm cho những mảnh đất nằm ở vị trí khác nhau có giá trị rất khác nhau.