Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nhận thức chung về QHSDĐ. QHSDĐ có vai trò và chức năng vô cùng quan trọng, nó tạo ra những điều kiện cần thiết để tổ chức sử dụng đất có hiệu quả cao. QHSDĐ là một hoạt động định hướng nhằm sắp xếp, bố trí sử dụng đất một cách hợp lý vào thời điểm hiện tại và phù hợp với mục tiêu trong tương lai.
QHSDĐ là tiền đề vững chắc cho bất kỳ giải pháp nào nhằm phát huy đồng thời những tiềm năng to lớn, đa dạng và các điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội khác. QHSDĐ là tiến hành phân chia, sắp xếp hợp lý về mặt không gian và bố trí cân đối các hạng mục sản xuất kinh doanh theo các cấp quản lý sản xuất khác nhau, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu về mặt Nông lâm sản cho nền kinh tế địa phương và Quốc dân. Đặc biệt trong sản xuất Nông - lâm nghiệp QHSDĐ có nhiệm vụ quy hoạch sử dụng các loại đất Nông – nghiệp, các phương pháp thâm canh trong Nông – lâm nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng đất và các giải pháp bảo vệ đất chống xói mòn, bảo vệ rừng và môi trường sinh thái. QHSDĐ là một bộ phận cấu thành của quy hoạch tổng thể phát triển nông thôn.
Do đó, công tác QHSDĐ cần có sự phối hợp chặt chẽ với quy hoạch phát triển nông thôn mới nhằm tránh sự chồng chéo, hạn chế lẫn nhau giữa các ngành. Thực chất của công tác quy hoạch là tổ chức về không gian và thời gian phát triển cho một ngành hoặc một lĩnh vực sản xuất trong từng giai đoạn cụ thể. Mỗi ngành kinh tế muốn tồn tại và phát triển bền vững thì nhất thiết phải tiến hành quy hoạch, sắp xếp một cách hợp lý, mà trong đó công tác điều tra cơ bản phục vụ cho công tác quy hoạch phát triển phải được đi trước một bước. Vấn đề QHSDĐ có ý nghĩa rất quan trọng đối với nền kinh tế xã hội.
Nếu QHSDĐ hợp lý thì nền kinh tế xã hội sẽ phát triển bền vững, trong điều kiện ngược lại thì sự phát triển của nền kinh tế xã hội sẽ gặp những cản trở, khó khăn. Ngày nay, trong điều kiện nhu cầu của xã hội về đất đai canh tác, đất xây dựng cơ sở hạ tầng, nguyên liệu gỗ củi, … ngày càng cao, tạo áp lực ngày càng lớn vào đất đai tài 4 nguyên thì vấn đề QHSDĐ một cách bền vững càng trở nên quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết, và đã trở thành một nguyên tắc hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia nói riêng và trên toàn cầu nói chung. Trên thế giới. Những nghiên cứu liên quan đến cơ sở khoa học của QHSDĐ cấp vĩ mô Khoa học về đất đai đã trải qua hơn một trăm năm nghiên cứu và phát triển, những thành tựu nghiên cứu về phân loại đất và xây dựng bản đồ đất đã được sử dụng làm cơ sở quan trọng cho việc tăng năng suất và sử dụng đất đai một cách hiệu quả.
Hiện nay trên thế giới có khoảng 7 tỷ người, theo tài liệu của FAO thì thế giới đang sử dụng khoảng 1,476 tỷ ha đất nông nghiệp, trong đó đất đồi núi có độ dốc trên 100 là 937 triệu ha chiếm 63,5%. Trong quá trình sử dụng nhân loại đã làm hư hại khoảng 1,4 tỷ ha đất. Ước lượng hàng năm toàn cầu mất khoảng 11 triệu ha đất nông nghiệp do các nguyên nhân xói mòn, sa mạc hoá, nhiễm độc hoặc bị chuyển hóa sang các dạng khác [20]. Sự phát triển của QHSDĐ gắn liền với sự phát triển kinh tế Tư bản chủ nghĩa.
Từ thế kỷ thứ XIX, khi nền kinh tế Tư bản chủ nghĩa bắt đầu phát triển với tốc độ mạnh do ngành công nghiệp và giao thông vận tải phát triển, nên nhu cầu khối lượng gỗ ngày càng tăng. Sản xuất gỗ đã tách khỏi nền kinh tế địa phương của chế độ phong kiến và bước vào thời đại kinh tế hàng hoá Tư bản chủ nghĩa. Chính hệ thống hoàn chỉnh về lý luận QHSDĐ đã được hình thành trong hoàn cảnh như vậy và đã được đề cập đến, được thực hiện một cách triệt để, nghiêm túc, nhằm thoả mản nhu cầu của thực tế khách quan xã hội loài người. Thời kỳ này đã có những công trình nghiên cứu về QHSDĐ, phần lớn các công trình nghiên cứu này đều xuất phát tại Mỹ [51].
Tại Mỹ, năm 1929 bang Wiscosin đã ra đạo luật sử dụng đất đai trong đó có quy định nguyên tắc sử dụng đất Lâm nghiệp, tiếp theo là xây dựng kế hoạch sử dụng đất đầu tiên cho vùng Oneide của Wiscosin, kế hoạch này đã xác định các diện tích cho sử dụng Lâm nghiệp, Nông nghiệp và nghỉ ngơi giải trí [33]. Năm 1966 Hội đất học và Hội nông dân học Mỹ cho ra đời chuyên khảo về hướng dẫn điều tra 5 đất, đánh giá khả năng của đất và ứng dụng QHSDĐ. Tại Đức tác giả Haber năm 1972 đã xuất bản tài liệu “Khái niệm về sử dụng đất khác nhau, đây được coi là lý thuyết sinh thái về quy hoạch sử dụng đất dựa trên quan điểm về mối quan hệ hợp lý giữa tính đa dạng của hệ sinh thái cũng như sự ổn định của chúng với năng suất và khả năng điều chỉnh. Từ năm 1967 Hội đồng Nông nghiệp Châu Âu đã phối hợp với tổ chức FAO tổ chức nhiều hội nghị về phát triển nông thôn và QHSDĐ[51].
Các hội nghị này khẳng định rằng quy hoạch vùng nông thôn trong đó quy hoạch các ngành sản xuất như Nông nghiệp, Lâm nghiệp, chăn nuôi, chế biến nhỏ,… cũng như quy hoạch cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông phải dựa trên cơ sở quy hoạch đất đai. Năm 1971 và 1975 các chuyên gia tư vấn họp tại Rome (Italia) và Geneve (Thuỵ sỹ) để thảo luận về phương pháp luận quy hoạch nông thôn. Nội dung các cuộc thảo luận đã đề cập đến các phương pháp cùng tham gia trong quy hoạch cấp vi mô [17]. Những kết quả phân tích hệ thống canh tác tại Châu á, châu Phi và Nam Mỹ đã xác nhận rằng phân tích hệ thống canh tác là một công cụ quy hoạch, lập kế hoạch sử dụng đất cấp địa phương.
Năm 1990, Luning đã nghiên cứu kết hợp đánh giá đất đai với phân tích hệ thống canh tác cho QHSDĐ [ 52]. Trong nghiên cứu các hệ thống canh tác, Robert Chamerts năm 1985 đã đưa ra các cách tiếp cận như: Tiếp cận Sondeo của Peter Hildeband - (Hilđebran, 1981); tiếp cận “ Nông thôn - trở lại - về nông thôn” của Robert Rhoades - (Rhoades, 1982); các sử dụng cụm kiến nghị của L. Năm 1990 tổ chức FAO đã xuất bản cuốn Phát triển hệ thống canh tác (Farming system development) [20].Trong đó đã khái quát phương pháp tiếp cận nông thôn trước đây là phương pháp tiếp cận một chiều ( từ trên xuống). Qua nghiên cứu và thực tiễn đã đưa ra phương pháp tiếp cận mới nhằm phát triển các hệ thống trang trại và cộng đồng nông thôn trên cơ sở bền vững.
6 Theo Erwin (năm1999), phân tích hệ thống canh tác là công cụ cho phân tích các trở ngại trong hệ thống nông trại hộ gia đình để xác định mục tiêu quy hoạch, xác định các kiểu sử dụng đất mới, đánh giá các phương án sử dụng đất khác nhau nhằm mục đích lựa chọn phương án tốt nhất. Những ngiên cứu liên quan đến sử dụng đất cấp vi mô có sự tham gia của người dân Vấn đề quy hoạch sử dụng đất có sự tham gia của người dân đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới, trong nước nghiên cứu và công bố kết quả. - Hội thảo quốc tế tại Việt Nam năm 1998 về vấn đề QHSDĐ cấp làng bản [39] đã được tổ chức nông nghiệp và lương thực thế giới (FAO) đề cập một cách khá chi tiết cả về mặt khái niệm lẫn sự tham gia trong việc đề xuất các chiến lược QHSDĐ và giao đất cấp làng bản. - Tại cuộc Hội thảo giữa trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam và Trường Tổng hợp Kỹ thuật Dresden, vấn đề QHSDĐ có sự tham gia của người dân đã được Holm Uibrig đề cập khá đầy đủ và toàn diện [45].
Tài liệu đã phân tích một cách đầy đủ về mối quan hệ giữa các loại hình canh tác có liên quan như: Quy hoạch rừng, vấn đề phát triển nông thôn, QHSDĐ, phân cấp hạng đất và phương pháp tiếp cận mới trong QHSDĐ. Vấn đề lập kế hoạch sử dụng và quản lý tài nguyên đất cũng được các nhà khoa học và các quốc gia đặc biệt quan tâm. Khởi đầu, công tác lập kế hoạch đựợc xây dựng bằng cách tiếp cận một chiều từ trên xuống. Tuy nhiên phương pháp này sớm bộc lộ những nhược điểm của nó, đó là thiếu vắng sự đóng góp của cộng đồng dân cư sở tại dẫn đến hiệu quả thực tế không cao.
Về sau, những nghiên cứu về quy hoạch và quản lý rừng cộng đồng ở Nepal đã chứng tỏ ưu thế của cách tiếp cận mới, đó là cách tiếp cận lấy người dân làm trung tâm trong công tác xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển của cộng đồng. Dựa trên những kết quả thực tiển ở Ấn độ. Giai đoạn từ năm 1970 đến đầu năm 1980, ở nhiều Quốc gia trên thế giới các phương pháp điều tra, đánh giá truyền thống dần được thay thế bằng các phương pháp điều tra đánh giá có sự tham gia 7 của người dân (PRA) và đánh giá nhanh nông thôn (RRA). Phương pháp này nhanh chóng thể hiện được ưu thế và hiệu quả nổi trội của nó trong việc điều tra, đánh giá, lập kế hoạch, QHSDĐ nói chung và đất Nông Lâm nghiệp nói riêng [51].
Ngày nay, PRA và RRA đã dần dần được hoàn thiện và thể hiện được vai trò không thể thiếu nó trong mọi hoạt động lập kế hoạch, QHSDĐ. - Việt Nam, có thể áp dụng những thành tựu nghiên cứu về QHSDĐ trên thế giới, nhưng phải thực hiện một cách linh hoạt cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể đối với từng cộng đồng nông thôn Việt Nam. Quy hoạch phát triển Nông – lâm nghiệp phải dựa trên nền tảng QHSDĐ, kết hợp quy hoạch từ trên xuống bằng các định hướng chiến lược, đồng thời ưu tiên nhu cầu và phạm vi của cộng đồng thông qua quy hoạch phát triển – xây dựng kế hoạch cấp thôn bản. - Hệ thống canh tác trên đất dốc, quan điểm sử dụng đất bền vững là những giải pháp quan trọng và là cơ sở cho QHSDĐ cấp vi mô.
Quy hoạch sử dụng đất ở Việt nam 1.