Chương 1: Giới thiệu về quản 1 4 2 2 trị sản xuất và tác nghiệp 2 Chương 2: Dự báo nhu cầu 7 3 4 Kiểm tra 1 1 Chương 3: Hoạch định sản 3 phẩm, quy trình và công nghệ 4 2 2 sản xuất Chương 4: Xác định địa điểm 4 5 2 3 doanh nghiệp Kiểm tra 1 1 Chương 5: Quản trị hàng tồn 5 6 2 4 kho Kiểm tra 1 1 Chương 6: Hoạch định nhu 6 5 2 3 cầu vật liệu Chương 7: Lập lịch trình sản 7 10 2 8 xuất Kiểm tra 1 1 Cộng 45 15 26 4 xi CHƢƠNG 1 GIỚI THIỆU VỀ QUẢN TRỊ SẢN XUẤT VÀ TÁC NGHIỆP Một trong các yếu tố quyết định đến sự thành bại trong kinh doanh của một doanh nghiệp là quản trị tốt doanh nghiệp, nhưng muốn làm tốt công tác này thì nhà quản trị cần phải làm tốt công tác quản trị sản xuất cũng như những hoạt động tác nghiệp của nó. Đầu tiên, chúng ta cần tìm hiểu về hoạt động sản xuất, quản trị sản xuất và các hoạt động tác nghiệp có liên quan đến quá trình sản xuất của doanh nghiệp nhằm nâng cao năng suất sản xuất và có giảm được các chi phí đầu vào của sản phẩm với hiệu quả cao nhất có thể. * Mục tiêu bài học: Sau khi học xong chương này, người học có khả năng: - Kiến thức: Trình bày được về quản trị quá trình sản xuất và các hoạt động tác nghiệp liên quan, nhằm nâng cao năng suất lao động trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Kỹ năng: Vận dụng được lý thuyết và liên hệ thực tiễn để có tầm nhìn bao quát về hoạt động sản xuất và quản trị sản xuất.
- Năng lực tự chủ và trách nhiệm: tập trung chú ý và tích cực, chủ động trong quá trình học cũng như việc tìm tài liệu tham khảo có liên quan để tăng thêm kiến thức và áp dụng trong quản lý doanh nghiệp. Một số khái niệm: 1. Khái niệm về sản xuất: Theo quan niệm phổ biến trên Thế giới thì sản xuất được hiểu là quá trình tạo ra sản phẩm hay dịch vụ. Ở nước ta lâu nay có một số người thường cho rằng chỉ có những doanh nghiệp chế tạo sản xuất ra các sản phẩm vật chất có hình thái cụ thể thì mới gọi là các đơn vị sản xuất.
Những đơn vị khác không sản xuất ra các sản phẩm vật chất đều xếp vào loại các đơn vị phi sản xuất. Ngày nay trong nền kinh tế thị trường, quan niệm như vậy không còn phù hợp nữa. Một hệ thống sản xuất nhận đầu vào là nguyên vật liệu thô, con người, máy móc, nhà xưởng, kỹ thuật công nghệ, tiền mặt và các nguồn tài nguyên khác,… chuyển đổi nó thành sản phẩm hay dịch vụ. Quá trình chuyển đổi này là trọng tâm cái gọi là sản xuất và là hoạt động phổ biến của một hệ thống sản xuất.
Mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản trị trong quản trị sản xuất và tác nghiệp, những người mà chúng ta sẽ gọi là nhà quản trị hệ thống là các hoạt động chuyển hóa sản xuất. 1 Như vậy về thực chất: Sản xuất chính là quá trình chuyển hóa các yếu tố đầu vào thành các sản phẩm hay dịch vụ ở đầu ra. Các yếu tố đầu vào Chuyển hóa ( Sản xuất ) Các yếu tố đầu ra - Nguồn nhân lực - Làm biến đổi Sản phẩm hàng hóa - Nguyên vật liệu - Làm tăng giá trị hay dịch vụ. - Kỹ thuật, công nghệ - Máy móc thiết bị - Vốn - Khoa học và nghệ thuật quản trị Theo nghĩa rộng: Sản xuất bao hàm bất kỳ hoạt động nào nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người.
Nó có thể được phân thành: Sản xuất bậc 1, Sản xuất bậc 2, Sản xuất bậc 3. Sản xuất bậc 1: Sản xuất sơ chế: Là hình thức sản xuất dựa vào việc khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên hoặc là các hoạt động sử dụng các nguồn tài nguyên có sẵn còn ở dạng tự nhiên như khai thác quặng mỏ, khai thác lâm sản, đánh bắt thủy hải sản, trồng trọt, chăn nuôi hay các hoạt động sơ chế,… 1. Sản xuất bậc 2: Công nghiệp chế tạo Là hình thức sản xuất chế tạo, chế biến các loại nguyên liệu thô hay nguồn tài nguyên thiên nhiên thành hàng hóa. Sản xuất bậc 2 còn bao gồm cả việc chế tạo các bộ phận cấu thành được dùng để lắp ráp thành sản phẩm tiêu dùng hay sản phẩm công nghiệp.
Sản xuất bậc 3: Công nghiệp dịch vụ: Là hình thức cung cấp các hệ thống dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người. Trong nền sản xuất bậc 3 dịch vụ được sản xuất ra nhiều hơn các loại hàng hóa hữu hình. Các nhà sản xuất công nghiệp được cung cấp những điều kiện thuận lợi và dịch vụ trong phạm vi rộng lớn. Các công ty vận tải chuyên chở các sản phẩm của các nhà sản xuất từ nhà máy đến các nhà bán lẻ.
Các nhà buôn và bán lẻ cung cấp các dịch vụ đến người tiêu dùng cuối cùng hay người sử dụng công nghiệp. Ngoài ra còn nhiều loại dịch vụ khác như: bốc dỡ hàng hóa, dịch vụ bưu chính viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm, y tế, giáo dục,… 2 1. Đặc điểm của sản xuất hiện đại: - Sản xuất phải có kế hoạch hợp lý, khoa học - Chú trọng đến chất lượng sản phẩm - Nhận thức rõ con người là tài sản quí nhất của công ty - Kiểm soát tốt về chi phí - Những nhà máy lớn, cũ là trở ngại của sự cải tiến - Ứng dụng ý tưởng cơ giới hóa và tự động hóa - Ngày càng ứng dụng nhiều thành tựu của công nghệ tin học. - Mô phỏng toán học để hỗ trợ cho việc ra quyết định.
Khái niệm về quản trị sản xuất và tác nghiệp: Quản trị sản xuất và tác nghiệp bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến việc quản trị các yếu tố đầu vào, tổ chức phối hợp các yếu tố đó nhằm chuyển hóa chúng thành các sản phẩm vật chất hoặc dịch vụ với hiệu quả cao nhất. Để tạo ra sản phẩm hay dịch vụ, các doanh nghiệp đều phải thực hiện ba chức năng cơ bản: marketing, sản xuất, tài chính. Các nhà quản trị marketing chịu trách nhiệm tạo ra một nhu cầu cho sản phẩm và dịch vụ của tổ chức. Các nhà quản trị tài chính chịu trách nhiệm về việc đạt được mục tiêu tài chính của doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp không thể thành công khi không thực hiện đồng bộ các chức năng tài chính, marketing và sản xuất. Không quản trị sản xuất tốt tthì không có sản phẩm tốt, không có marketing tốt tthì sản phẩm và dịch vụ cung ứng không nhiều, không có quản trị tài chính tốt thì các thất bại về tài chính là không thể tránh khỏi. Mỗi chức năng hoạt động một cách độc lập để đạt được mục tiêu riêng của mình, nhưng đồng thời cũng phải làm việc cùng nhau để đạt được mục tiêu chung cho doanh nghiệp về lợi ích, sự tồn tại và tăng trưởng trong một điều kiện kinh doanh năng động. Do đó có thể nói rằng quản trị sản xuất và tác nghiệp có tầm quan trọng đặc biệt trong hoạt động của doanh nghiệp.
Nếu quản trị tốt, ứng dụng các phương pháp quản trị khoa học thì sẽ tạo khả năng sinh lợi lớn cho doanh nghiệp và ngược lại nếu quản trị xấu sẽ làm cho doanh nghiệp bị thua lỗ, thậm chí có thể bị phá sản. Vấn đề năng suất trong quản trị sản xuất: 2. Khái niệm và ý nghĩa: Năng suất phản ảnh sự gia tăng (sản phẩm hay giá trị) của quá trình sản xuất. 3 Năng suất được tính toán bằng cách so sánh kết quả đạt được với nguồn lực bỏ ra.
Số lượng sản phẩm đã làm ra Năng suất = ------------------------------------ Lượng đầu vào đã sử dụng Ví dụ: sản phẩm đã làm được là 1000 sản phẩm, số giờ công đã sử dụng là 4 giờ. Vậy năng suất lao động đã bỏ ra là 250 sản phẩm/ giờ lao động. Nếu bây giờ số giờ công không đổi ( 4 giờ) mà số lượng sản phẩm làm tăng lên 1200 sản phẩm, thì năng suất sẽ tăng lên 300 sản phẩm/giờ. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng đối với từng doanh nghiệp cũng như đối với một quốc gia.
Rõ ràng nếu có sự tăng trưởng về năng suất thì mức sống của người dân mới được cải thiện do có nhiều sản phẩm và dịch vụ thỏa mãn được nhu cầu tiêu dùng của người dân. Mặt khác do sự tăng trưởng về năng suất nên các yếu tố đầu vào như: lao động, vốn, quản lý,…mới có thể nhận được một khoản chi trả lớn hơn. Ngược lại, các yếu tố đầu vào được chi trả lớn hơn trong khi năng suất không tăng thì giá cả sản phẩm và dịch vụ phải tăng lên để bù trừ, tức là khi số lượng sản phẩm, dịch vụ được làm ra phải nhiều hơn với cùng số lượng đầu vào đã sử dụng. Như vậy nhiệm vụ của các nhà quản trị là phải làm sao cho năng suất không ngừng tăng lên.
Khoa học quản trị sản xuất và tác nghiệp sẽ giúp họ tìm được các giải pháp thích hợp để giải quyết các vấn đề này. Những nhân tố tác động đến năng suất: Qua khảo sát thực tế, người ta nhận thấy rằng 3 yếu tố chủ yếu sau đây tác động trực tiếp đến năng suất: - Nhân tố lao động - Nhân tố vốn - Nhân tố khoa học và nghệ thuật quản trị : có một vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động. Cần phải xem quản trị là một yếu tố sản xuất, là một nguồn lực, là một tiềm năng về kinh tế. Khoa học và nghệ thuật quản trị sẽ tạo ra những điều kiện tốt nhất để có thể tăng năng suất thông qua những cải tiến, đề xuất được rút ra từ sự vận dụng những kiến thức về kinh tế xã hội và kỹ thuật.
4 Những cải tiến nêu trên trong hoạt động quản trị có thể được thực hiện trọn vẹn, mang lại kết quả tốt thông qua nền tảng giáo dục và đào tạo không những đối với nhà quản trị mà còn đối với cả người lao động, nâng cao hàm lượng khoa học trong hoạt động của họ. Vì vậy những quốc gia nào càng chú trọng nâng cao dân trí, chú trọng đầu tư phát triển con người thì họ càng thành công trong việc năng cao năng suất. Do điều kiện xã hội và giao lưu quốc tế luôn thay đổi nên việc giáo dục và đào tạo cũng phải được phát triển liên tục và nhanh chóng.