Chương I- Luật DN ban hành 2014 quy định: "Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh". Từ khái niệm trên chúng ta có thể rút ra những đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp như sau: - Chức năng sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp là không thể tách rời nhau, ngược lại chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và tạo thành một chu kỳ khép kín trong hoạt động của doanh nghiệp. - Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập để thực hiện các hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người và xã hội. - Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện kinh tế, tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ… - Doanh nghiệp là một tổ chức sống trong một thể sống (nền kinh tế) gắn liền với địa phương nơi nó tồn tại.
Khái niệm quản trị doanh nghiệp - Kinh doanh: là công việc thực hiện một hoặc một số công đoạn từ sản xuất đến tiêu thụ hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời). 10 - Quản trị: là quá trình thực hiện các tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý để phối hợp hoạt động của các cá nhân và tập thể nhằm đạt các mục tiêu đó đề ra của tổ chức. - Quản trị: là quá trình làm việc với người khác và thông qua người khác để thực hiện các mục tiêu của tổ chức trong một môi trường luôn biến động. - Quản trị: là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra họat động của các thành viên trong tổ chức, sử dụng các nguồn lực nhằm đạt đến sự thành công trong các mục tiêu đề ra của doanh nghiệp.
- Theo quá trình quản trị kinh doanh: công tác quản trị trong doanh nghiệp là quá trình lập kế họach, tổ chức phối hợp và điều chỉnh các hoạt động của các thành viên, các bộ phận và các chức năng trong doanh nghiệp nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực để đạt được các mục tiêu đó đặt ra của tổ chức. - Quản trị DN: là một tiến trình làm việc với con người và thông qua con người để hoàn thành mục tiêu của DN trong môi trường luôn luôn thay đổi, nhằm mục đích sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên có hạn. Hoặc QTDN là sự lãnh đạo trên cơ sở hoạch định, tổ chức nhân sự, điều khiển và kiểm tra công việc nhằm đạt các mục tiêu KD đã đề ra. QTDN nhằm làm cho mọi nguời lao động hoạt động thống nhất theo một mục tiêu chung, đảm bảo quá trình sản xuất KD đạt kết quả trên cơ sở sử dụng, phối hợp có hiệu quả con người, các yếu tố vật chất, kỹ thuật rất khác nhau trong quá trình lao động.
Doanh nghiệp có một số đặc trưng đó là: - DN là một tổ chức kinh tế hợp pháp, thông qua các hoạt động sản xuất hàng hoá, hay cung cấp các loại dịch vụ để thực hiện mục đích chính là thu được lợi nhuận và mở rộng hơn nữa hoạt động sản xuất, KD. - DN là một chủ thể KD có quy mô đủ lớn: Quy mô của DN phải có độ lớn vượt quy mô của KD cá thể, KD hộ gia đình. - DN là một tổ chức sống, theo nghĩa nó cũng có vòng đời với các bước thăng trầm, những quy luật về phát triển và diệt vong. - Bản chất của DN: như đã trình bày ở trên là một hệ thống sản xuất hàng hoá và dịch vụ để thoả mãn như cầu của xã hội.
Dưới áp lực của cạnh tranh, các nhà sản xuất phải bằng mọi cách để có thể sử dụng có hiệu quả hơn các yếu tố đầu vào (nguyên liệu, thiết bị và lao động.) để tạo ra nhiều hàng hoá có chất lượng tốt hơn, đạt doanh thu cao, lợi nhuận nhiều hơn trên cơ sở phục vụ, thoả mãn tốt nhất các nhu cầu của xã hội. Các hình thức tổ chức quản trị doanh nghiệp theo quy định của pháp luật Theo Luật doanh nghiệp Việt Nam 2014 theo tính chất pháp lý của doanh nghiệp thì có 4 loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất hiện nay là: Doanh Nghiệp tư nhân, công ty TNHH một thành viên, công ty TNHH hai thành viên trở lên và công ty cổ phần, Công ty hợp danh. Luật này cũng quy định rõ tính chất, trách nhiệm, cơ chế hoạt động, cơ cấu tổ chức của từng loại hình khác nhau: 2. Doanh Nghiệp Tư Nhân.
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh.
Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Doanh nghiệp tư nhân là loại hình doanh nghiệp đơn giản nhất, cơ cấu gọn nhẹ nhất, phù hợp nếu một mình bạn bỏ vốn kinh doanh trong thị trường nhỏ. Doanh nghiệp tư nhân tạo sự tin tưởng cho khách hàng hơn các loại hình khác do quy định “Chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình”. Tất cả các loại hình doanh nghiệp đều có quy định ngành nghề giống nhau, nhưng theo kinh nghiệm của chúng tôi thì các ngành nghề kinh doanh sau khách hàng thường lựa chọn loại hình doanh nghiệp tư nhân: Dịch vụ phục vụ cà phê, nước giải khát, dịch vụ ăn uống, bán buôn, bán lẻ vật liệu xây dựng, bán tạp hóa, bán văn phòng phẩm, quà lưu niệm, bán buôn, bán lẻ thực phẩm… 2.
Công ty trách nhiệm hữu hạn a. Công ty TNHH một thành viên. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
12 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát hành cổ phần. Không được giảm vốn điều lệ Đây là loại hình khá đặc biệt và khá phổ biến ở Việt Nam nhờ cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, đơn giản, chủ sở hữu cũng chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn điều lệ đã đăng ký của công ty. Chủ sở hữu có thể là cá nhân hoặc tổ chức, có thể thuê, mướn giám đốc/ tổng giám đốc (Người đại diện theo pháp luật). Loại hình này phổ biến với rất nhiều ngành nghề kinh doanh.
Nếu bạn là 1 tổ chức muốn thành lập 1 công ty con, hoặc cá nhân có đủ năng lực tài chính thì đây là 1 loại hình kinh doanh phù hợp nhất. Công ty TNHH hai thành viên trở lên. Công ty trách nhiệm hữu hạn là doanh nghiệp, trong đó: có 2 Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá năm mươi; Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp; Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại các điều 43, 44 và 45 của Luật này. Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phần. Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Được quyền chuyển nhượng phần vốn góp, thay đổi thành viên góp vốn. Đây là loại hình phổ biến nhất ở Việt Nam hiện nay, phù hợp với mọi quy mô, lĩnh vực kinh doanh.
Nếu bạn muốn hùn với với cá nhân hoặc tổ chức để kinh doanh thì đây là sự lựa chọn thích hợp. Công ty cổ phần Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật này. 13 Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn.
Công ty cổ phần có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty được quy định tại Điều lệ công ty. Nếu bạn muốn mở công ty có ít nhất 3 cá nhân hoặc tổ chức thì cổ phần là loại hình phù hợp. Đây là lựa chọn của đa phần các công ty lớn, kinh doanh những ngành nghề đòi hỏi vốn, kinh nghiệm và uy tín như: Bất động sản, khách sạn, du lịch… Tuy nhiên nó phù hợp cho tất cả các ngành nghề kinh doanh pháp luật Việt Nam cho phép.
Các tổ chức kinh tế khu vực nhà nước a. Khái niệm: Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do nhà nước giao. Đặc trưng cơ bản của DNNN - DNNN là một pháp nhân do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý. - DNNN có thẩm quyền kinh tế bình đẳng với các DN khác và hạch toán kinh tế độc lập trong phạm vi vốn do DN quản lý.
- DNNN giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, được giao chức năng kinh doanh và chức năng hoạt động công ích. - DNNN có trụ sở đặt tại lãnh thổ Việt Nam.