Chương I ĐẠI CƯƠNG VỀ KHOA HỌC VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC I. NHẬN THỨC VỀ KHOA HỌC 1. Khái niệm khoa học Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khoa học, như tiếp cận nội dung, tiếp cận nhận thức, tiếp cận hoạt động, tiếp cận triết học và theo nghĩa thông thường. Do có các cách tiếp cận khác nhau nên dẫn đến các khái niệm khác nhau.
Xin đơn cử vài ví dụ: Triết học Mác - Lênin xem khoa học là một trong các lĩnh vực của ý thức xã hội mà ý thức xã hội là "phương diện sinh hoạt tinh thần của xã hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong một giai đoạn phát triển nhất định"1. Ý thức xã hội bao gồm các hình thái khác nhau: ý thức chính trị, ý thức đạo đức, ý thức tôn giáo, ý thức thẩm mĩ, ý thức khoa học, v. Tồn tại xã hội có vai trò quyết định đối với ý thức xã hội. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, Nxb.
Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 11 ý thức xã hội có tính độc lập tương đối so với tồn tại xã hội, có khả năng tác động trở lại đối với tồn tại xã hội và tác động lẫn nhau giữa các hình thái ý thức. "Khoa học là một hình thái ý thức xã hội phản ánh hiện thực khách quan, tạo ra hệ thống chân lý về thế giới. Hệ thống chân lý này được diễn đạt bằng các khái niệm, phạm trù trừu tượng, những nguyên lý khái quát, những giả thuyết, học thuyết,.
Khoa học không những hướng vào giải thích thế giới mà còn nhằm cải tạo thế giới. Khoa học làm cho con người mạnh mẽ trước thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ lợi ích của mình"1. Một đặc điểm quan trọng của khoa học là những luận điểm, nguyên lý là hệ thống chân lý khách quan. Chân lý chỉ có một, được thực tiễn kiểm nghiệm.
Thực tiễn là nguồn gốc, tiêu chuẩn của nhận thức, là nhân tố kích thích phát triển khoa học. Quy luật đặc biệt của nhận thức khoa học là tư tưởng khoa học tiên tiến thường đi trước thời đại, vượt lên trên trình độ và yêu cầu của thực tiễn. Khoa học không có giới hạn trong sự phát triển vì tư duy con người không có giới hạn trong nhận thức. Khoa học có tính độc lập tương đối so với các hình thức ý thức xã hội khác.
Tất cả các hình thái ý thức có liên hệ với nhau và đều là đối tượng nghiên cứu của khoa học. Khoa học là một hệ thống các tri thức về thế giới khách quan. Khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về ___________ 1. Phạm Viết Vượng: Phương pháp nghiên cứu khoa học, Nxb.
Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 1997, tr. 12 quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy. Có hai loại tri thức: tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học. Hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội.
Tri thức kinh nghiệm là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động sống hằng ngày, trong mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên. Quá trình này giúp con người hiểu biết về sự vật, về cách quản lý thiên nhiên và hình thành mối quan hệ giữa những con người trong xã hội. Tri thức kinh nghiệm được con người không ngừng sử dụng và phát triển trong hoạt động thực tế. Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm chưa thật sự đi sâu vào bản chất, chưa thấy được hết các thuộc tính của sự vật và mối quan hệ bên trong giữa sự vật và con người.
Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biết giới hạn nhất định, nhưng tri thức kinh nghiệm là cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học. Tri thức khoa học là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thống nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học, các hoạt động này có mục tiêu xác định và sử dụng phương pháp khoa học. Tri thức khoa học thường được biểu hiện dưới dạng các khái niệm, quy luật, định luật, định lý, học thuyết,. Không giống như tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học dựa trên kết quả quan sát, thu thập được qua những thí nghiệm và các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự nhiên.
Tri thức khoa học được tổ chức trong khuôn khổ các ngành 13 và bộ môn khoa học như: triết học, sử học, kinh tế học, toán học, sinh học,. Như vậy, tri thức khoa học là kết quả của quá trình nhận thức có mục đích, có kế hoạch, có phương pháp và do đội ngũ các nhà khoa học thực hiện. Với nhận thức như trên, các nhà khoa học Xôviết, đưa ra khái niệm: "Khoa học là hệ thống tri thức về tự nhiên, về xã hội và tư duy, về những quy luật phát triển khách quan của tự nhiên, xã hội, tư duy, hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội"1. Đây là cách tiếp cận nội dung được đông đảo các nhà nghiên cứu chấp nhận.
Định nghĩa về khoa học được chấp nhận phổ biến rằng khoa học là tri thức tích cực đã được hệ thống hóa. Khoa học là hoạt động xã hội đặc biệt. Với cách tiếp cận hoạt động, khoa học được hiểu là một hoạt động đặc biệt của con người, giống như hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Mục đích của hoạt động khoa học là khám phá bản chất, các quy luật vận động của thế giới để vận dụng vào sản xuất và đời sống xã hội.
Thực chất hoạt động khoa học là phát minh, sáng tạo ra tri thức mới cho loài người. Ngoài ra, khoa học còn được hiểu theo nghĩa thông thường. Khoa học là sự sắp xếp hợp lý, lôgích theo trật tự. Ở đây muốn nói đến nếp sống khoa học.
Đại bách khoa toàn thư Liên Xô, Nxb. Bách khoa toàn thư, Mátxcơva, 1981, quyển XIX, tr. 14 Trong Tiếng Việt, "khoa học", "kỹ thuật" và "công nghệ" đôi khi được dùng với nghĩa tương tự nhau hay được ghép lại với nhau (chẳng hạn "khoa học kỹ thuật"). Tuy vậy, khoa học khác với kỹ thuật và công nghệ.
Kỹ thuật là việc ứng dụng kiến thức khoa học, kinh tế, xã hội và thực tiễn để thiết kế, xây dựng và duy trì các cấu trúc, máy móc, thiết bị, hệ thống, vật liệu và quá trình. Còn công nghệ là sự tạo ra, sự biến đổi, sử dụng kiến thức về các công cụ, máy móc, kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp, hệ thống và phương pháp tổ chức, nhằm giải quyết một vấn đề, cải tiến một giải pháp đã tồn tại, đạt được một mục đích, hay thực hiện một chức năng cụ thể. Đặc điểm của khoa học Trước hết, khoa học gắn rất chặt với thực tiễn nên khoa học có tính thực tiễn. Tính thực tiễn của khoa học thể hiện ở chỗ khoa học có nguồn gốc từ thực tiễn, được kiểm nghiệm trong hoạt động thực tiễn và phải được vận dụng vào thực tiễn.
Đặc điểm thứ hai của khoa học là sản phẩm của khoa học phải được chứng minh bằng các phương pháp nghiên cứu khoa học. Một đặc điểm khác của khoa học là có tính tiên đoán, tính dự báo. Những tư tưởng khoa học tiên tiến thường đi trước thời đại, vượt lên trên những yêu cầu của hiện tại. Với sự am tường về lịch sử - văn hóa dân tộc, dịch học phương Đông, phép biện chứng duy vật,.
Hồ Chí Minh đã có những dự báo chính xác về Chiến tranh thế giới thứ 15 hai và cách mạng Việt Nam. Ví dụ: Trả lời câu hỏi: Năm nay tình hình thế giới và trong nước sẽ thế nào? Trong bài "Năm mới, công việc mới" trên báo Việt Nam độc lập, số 114, năm 1942, Bác khẳng định: "Ta có thể quyết đoán rằng, Nga nhất định thắng, Đức nhất định bại; Anh - Mỹ sẽ được, Nhật Bản sẽ thua. Đó là một dịp rất tốt cho dân ta khởi nghĩa đánh đuổi Pháp, Nhật, làm cho Tổ quốc ta được độc lập, tự do"1. Gia Cát Lượng, thời Tam Quốc của Trung Quốc, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm thời hậu Lê nước Việt Nam ta cũng có những dự đoán thiên tài.
Một đặc điểm nữa của khoa học là không có giới hạn trong sự phát triển. Khoa học luôn luôn vận động và ngày càng hoàn thiện cùng với khả năng nhận thức và trình độ phát triển của khoa học. Cuối cùng, là thành tựu nghiên cứu khoa học ngày càng được ứng dụng nhanh hơn vào thực tiễn. Tiêu chí một bộ môn khoa học Để được gọi là một bộ môn khoa học cần phải đáp ứng các tiêu chí sau2: Thứ nhất, một bộ môn khoa học cần có đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu là bản thân sự vật, hiện tượng được đặt trong phạm vi quan tâm của bộ môn khoa học. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t. Vũ Cao Đàm: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb.
Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1999, tr. 16 Bộ môn khoa học nào cũng có đối tượng nghiên cứu riêng. Nếu cùng một sự vật, hiện tượng thì bộ môn khoa học phải nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của sự vật, hiện tượng. Ví dụ: đối tượng nghiên cứu của lịch sử quan hệ quốc tế xem quan hệ quốc tế như kết quả hoạt động trên trường quốc tế của chủ thể, nhất là chủ thể quốc gia - dân tộc và các tổ chức quốc tế liên chính phủ.
Lịch sử quan hệ quốc tế không đơn thuần là tổng hợp lịch sử chính sách đối ngoại của các chủ thể riêng biệt. Nhiệm vụ của bộ môn khoa học này chỉ ra rằng, các sự kiện hay các sự kiện quốc tế khác đã xảy ra như thế nào và tại sao? Lực lượng chính trị nào gây ra chúng, ảnh hưởng của chúng đến tiến trình, kết cục của các sự kiện. Tuy nhiên, nhiệm vụ của lịch sử quan hệ quốc tế là cũng là nghiên cứu chính sách đối ngoại của các nước, vì các nước là chủ thể tham gia quan hệ quốc tế. Không nghiên cứu chính sách đối ngoại của các nước riêng biệt thì lịch sử quan hệ quốc tế có thể trở thành sơ đồ trừu tượng.
Để làm sáng tỏ chính sách đối ngoại của các nước đòi hỏi phải khám phá mối liên hệ hữu cơ giữa chính trị đối nội và chính trị đối ngoại, làm rõ đặc điểm giai cấp của chính trị và chỉ ra cuộc đấu tranh giai cấp, đảng phái về các vấn đề chính trị đối ngoại.