Ngoại giao và công tác ngoại giao - Sách tham khảo của GS. Vũ Dương Huân

Ngoại giao là nghệ thuật và khoa học quản lý quan hệ giữa các quốc gia thông qua đối thoại, đàm phán và hợp tác. Bài viết phân tích vai trò, nguyên tắc và

Chuyên ngành

Quan hệ quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình

2018

312
0
0

Phí lưu trữ

75 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về ngoại giao và công tác ngoại giao

Ngoại giao là hoạt động chính thức của nhà nước nhằm thực hiện chính sách đối ngoại. Hoạt động này dựa trên thương lượng, đàm phán và các biện pháp hòa bình. Mục tiêu là bảo vệ lợi ích quốc gia trên trường quốc tế. Công tác ngoại giao bao trùm nhiều lĩnh vực rộng lớn. Nó gồm ngoại giao chính trị, kinh tế và văn hóa. Mỗi lĩnh vực có vai trò riêng nhưng bổ sung cho nhau. Ngoại giao phát triển qua nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau. Từ hình thức sơ khai, nó trở thành nghệ thuật tinh vi. Người làm ngoại giao cần bản lĩnh và sự khéo léo. Họ đại diện cho quốc gia trong mọi cuộc tiếp xúc. Công tác ngoại giao đòi hỏi tri thức và kỹ năng sâu rộng. Nó kết nối quốc gia với cộng đồng quốc tế. Vai trò của ngoại giao ngày càng quan trọng trong hội nhập. Đất nước muốn phát triển phải dựa vào ngoại giao vững mạnh. Đây là công cụ giữ gìn hòa bình và ổn định bền vững.

1.1. Khái niệm và bản chất của ngoại giao

Ngoại giao là công cụ thực hiện chính sách đối ngoại của nhà nước. Bản chất của nó là giải quyết vấn đề bằng biện pháp hòa bình. Đàm phán và thương lượng là phương thức cốt lõi. Ngoại giao tránh dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Nó thể hiện ý chí và lợi ích của một quốc gia. Hoạt động này diễn ra cả song phương lẫn đa phương. Người làm ngoại giao phải hiểu rõ luật pháp quốc tế. Họ cần nắm vững nghệ thuật ứng xử và giao tiếp. Ngoại giao đòi hỏi sự kiên trì và linh hoạt cao độ. Đây là nền tảng cho mọi quan hệ đối ngoại bền vững.

1.2. Phân loại và lịch sử phát triển ngoại giao

Ngoại giao được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau. Có ngoại giao song phương và ngoại giao đa phương. Có ngoại giao chính trị, kinh tế và văn hóa riêng biệt. Mỗi loại phục vụ một mục tiêu cụ thể của quốc gia. Lịch sử ngoại giao trải dài qua hàng nghìn năm. Thời cổ đại, các quốc gia cử sứ giả trao đổi thư tín. Dần dần, cơ quan đại diện thường trú ra đời. Hệ thống ngoại giao hiện đại hình thành rõ nét. Công ước Viên đặt nền móng pháp lý quan trọng. Ngày nay, ngoại giao mang tính toàn diện và chuyên nghiệp.

II. Phân tích cơ quan và thư tín trong công tác ngoại giao

Nhà nước thực hiện ngoại giao qua hệ thống cơ quan chuyên trách. Bộ Ngoại giao đứng đầu hệ thống đối ngoại của quốc gia. Bên dưới là các cơ quan đại diện ở nước ngoài. Đại sứ quán và lãnh sự quán là hai loại hình chính. Mỗi cơ quan có chức năng và nhiệm vụ cụ thể rõ ràng. Cơ quan đại diện bảo vệ lợi ích quốc gia tại nước sở tại. Họ thúc đẩy quan hệ hợp tác trên nhiều lĩnh vực. Người đứng đầu cơ quan trải qua thủ tục bổ nhiệm chặt chẽ. Hàm và cấp ngoại giao được quy định nghiêm ngặt. Thư tín ngoại giao là công cụ liên lạc chính thức. Công hàm và bị vong lục có giá trị pháp lý cao. Soạn thảo công văn ngoại giao đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối. Một sai sót nhỏ có thể gây hậu quả lớn. Vì vậy người soạn thảo phải hết sức cẩn trọng. Đây là vấn đề then chốt trong công tác ngoại giao.

2.1. Hệ thống cơ quan quan hệ đối ngoại

Cơ quan quan hệ đối ngoại chia thành hai nhóm chính. Nhóm trong nước gồm Bộ Ngoại giao và các bộ liên quan. Nhóm ngoài nước gồm cơ quan đại diện ngoại giao và lãnh sự. Bộ Ngoại giao tham mưu cho Chính phủ về đối ngoại. Nó quản lý thống nhất hoạt động ngoại giao quốc gia. Cơ quan đại diện thường trú đặt tại nước tiếp nhận. Việc thiết lập quan hệ cần sự công nhận lẫn nhau. Cơ cấu tổ chức cơ quan đại diện khá phức tạp. Thành viên gồm viên chức ngoại giao và nhân viên hành chính. Mỗi vị trí đảm nhận trách nhiệm riêng biệt.

2.2. Thư tín và văn kiện ngoại giao

Thư tín ngoại giao có nhiều loại với giá trị khác nhau. Công hàm là hình thức trao đổi phổ biến nhất. Bị vong lục ghi lại nội dung trao đổi quan trọng. Một số công văn đặc biệt có ý nghĩa pháp lý lớn. Soạn thảo cần tuân thủ thể thức và lễ nghi quốc tế. Ngôn từ phải chính xác, lịch thiệp và rõ ràng. Văn kiện ngoại giao gồm điều ước và hiệp định. Chúng ràng buộc các bên về mặt pháp lý. Người soạn thảo phải lưu ý từng chi tiết nhỏ. Sự cẩn trọng là yêu cầu bắt buộc hàng đầu.

III. Phương pháp và kỹ năng trong công tác ngoại giao

Công tác ngoại giao đòi hỏi nhiều kỹ năng chuyên biệt. Tiếp xúc và đàm thoại là kỹ năng nền tảng quan trọng. Người làm ngoại giao phải chuẩn bị kỹ trước mỗi cuộc gặp. Họ cần nắm rõ đối tượng và mục tiêu tiếp xúc. Nghệ thuật đàm thoại quyết định thành công của cuộc gặp. Sau tiếp xúc, việc ghi chép và báo cáo rất cần thiết. Công tác nghiên cứu và thông tin giữ vai trò cốt lõi. Thông tin phải chính xác, kịp thời và đầy đủ. Nguồn thông tin cần được kiểm chứng cẩn thận. Đàm phán quốc tế là đỉnh cao của nghệ thuật ngoại giao. Kỹ thuật đàm phán cần được rèn luyện liên tục. Phong cách dân tộc ảnh hưởng đến cách đàm phán. Lễ tân ngoại giao bảo đảm nghi thức trang trọng. Ngôi thứ và cách sắp xếp chỗ phải đúng quy tắc. Mọi kỹ năng đều phục vụ lợi ích quốc gia tối cao.

3.1. Kỹ năng tiếp xúc và đàm phán ngoại giao

Tiếp xúc ngoại giao có tầm quan trọng đặc biệt. Nó mở đường cho hợp tác và giải quyết tranh chấp. Người làm ngoại giao xác định rõ đối tượng tiếp xúc. Họ chuẩn bị nội dung và phương án đàm thoại chu đáo. Nghệ thuật lắng nghe và thuyết phục rất cần thiết. Đàm phán quốc tế đòi hỏi kỹ thuật điêu luyện. Mỗi nhượng bộ phải tính toán kỹ về lợi ích. Phong cách dân tộc tạo nét riêng trong đàm phán. Hiểu văn hóa đối tác giúp tăng hiệu quả thương lượng. Sau đàm phán, kết quả cần được ghi nhận chính xác.

3.2. Công tác nghiên cứu thông tin và lễ tân

Công tác nghiên cứu cung cấp cơ sở cho quyết định. Thông tin ngoại giao phải đạt yêu cầu cao về chất lượng. Nó cần chính xác, kịp thời và có giá trị thực tiễn. Nguồn thông tin đa dạng nhưng phải được xử lý kỹ. Các hình thức báo cáo giúp truyền đạt thông tin hiệu quả. Lễ tân ngoại giao thể hiện sự tôn trọng và bình đẳng. Nghi thức đón tiếp lãnh đạo cấp cao rất trang trọng. Ngôi thứ ngoại giao tuân theo quy tắc quốc tế nghiêm ngặt. Tiệc ngoại giao và cách xưng hô đều có chuẩn mực. Lễ tân góp phần xây dựng hình ảnh quốc gia.

IV. Ứng dụng và định hướng ngoại giao toàn diện

Ngoại giao hiện đại hướng tới sự toàn diện và đồng bộ. Việt Nam triển khai nền ngoại giao toàn diện rõ nét. Toàn diện về chủ thể gồm đối ngoại Đảng, Nhà nước và nhân dân. Toàn diện về lĩnh vực với bốn trọng tâm gắn kết. Đó là chính trị, kinh tế, văn hóa và công tác kiều bào. Ngoại giao kinh tế tranh thủ nguồn lực phát triển đất nước. Nó tạo sự đan xen lợi ích giữa các quốc gia. Ngoại giao văn hóa quảng bá hình ảnh và bản sắc dân tộc. Thông tin đối ngoại lan tỏa quan điểm chính thức ra thế giới. Ngoại giao đa phương nâng cao vị thế quốc gia. Việt Nam tham gia tích cực vào các diễn đàn quốc tế. Mục tiêu là giữ vững môi trường hòa bình ổn định. Đồng thời bảo vệ vững chắc độc lập và chủ quyền. Ngoại giao toàn diện là chìa khóa cho hội nhập sâu rộng. Đây là định hướng chiến lược lâu dài của đất nước.

4.1. Ngoại giao kinh tế và văn hóa

Ngoại giao kinh tế phục vụ trực tiếp sự phát triển. Nó tranh thủ vốn, công nghệ và thị trường bên ngoài. Bộ Ngoại giao chủ trì các hoạt động kinh tế đối ngoại. Cơ quan đại diện hỗ trợ doanh nghiệp vươn ra thế giới. Ngoại giao văn hóa quảng bá giá trị và bản sắc Việt Nam. Nó xây dựng cơ sở pháp lý và chính sách rõ ràng. Việt Nam tích cực hợp tác với UNESCO trên nhiều mặt. Hai lĩnh vực này bổ trợ cho ngoại giao chính trị. Chúng tạo nền tảng cho quan hệ hợp tác bền vững. Hiệu quả của chúng góp phần nâng cao vị thế quốc gia.

4.2. Ngoại giao đa phương và hội nhập quốc tế

Ngoại giao đa phương ngày càng giữ vai trò trung tâm. Nó diễn ra qua các hội nghị và tổ chức quốc tế. Việt Nam chủ động tham gia điều ước quốc tế đa phương. Quá trình này nâng cao tiếng nói của đất nước. Hội nghị quốc tế cấp chính phủ tuân theo quy trình chặt chẽ. Ngoại giao đa phương mở rộng quan hệ với nhiều đối tác. Nó trải dài từ tiểu vùng đến phạm vi toàn cầu. Việt Nam đóng góp tích cực vào hòa bình thế giới. Hội nhập quốc tế gắn liền với lợi ích quốc gia. Đây là xu thế tất yếu của thời đại hiện nay.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

1 MỤC LỤC LỜI NHÀ XUẤT BẢN. 4 LỜI TỰA CHO LẦN XUẤT BẢN THỨ TƯ. NHẬN THỨC CHUNG VỀ NGOẠI GIAO VÀ CÔNG TÁC NGOẠI GIAO. KHÁI NIỆM NGOẠI GIAO. PHÂN LOẠI NGOẠI GIAO. VÀI NÉT VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGOẠI GIAO. CÔNG TÁC NGOẠI GIAO VÀ NGHỆ NGOẠI GIAO.24 Chương II. CÁC CƠ QUAN QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI CỦA NHÀ NƯỚC. KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI CƠ QUAN QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI CỦA NHÀ NƯỚC. BỘ NGOẠI GIAO. BỘ NGOẠI GIAO NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM. 46 Chương III. CƠ QUAN ĐẠI DIỆN NGOẠI GIAO. CÔNG NHẬN QUỐC GIA VÀ THIẾT LẬP QUAN HỆ NGOẠI GIAO. CÁC LOẠI HÌNH CƠ QUAN ĐẠI DIỆN NGOẠI GIAO. CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA CƠ QUAN ĐẠI DIỆN NGOẠI GIAO. CƠ CẤU TỔ CHỨC CƠ QUAN ĐẠI DIỆN THƯỜNG TRÚ. THỦ TỤC BỔ NHIỆM, NHẬM CHỨC VÀ KẾT THÚC NHIỆM KỲ CỦA NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU CƠ QUAN ĐẠI DIỆN NGOẠI GIAO. THÀNH VIÊN CƠ QUAN ĐẠI DIỆN. HÀM, CẤP NGOẠI GIAO. ĐOÀN NGOẠI GIAO.71 Chương IV. THƯ TÍN NGOẠI GIAO. CÁC LOẠI THƯ TÍN NGOẠI GIAO. MỘT SỐ CÔNG VĂN NGOẠI GIAO ĐẶC BIỆT. NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý KHI SOẠN CÔNG VĂN NGOẠI GIAO. TIẾP XÚC NGOẠI GIAO. TẦM QUAN TRỌNG CỦA TIẾP XÚC NGOẠI GIAO. ĐỐI TƯỢNG TIẾP XÚC. CÁC LOẠI TIẾP XÚC NGOẠI GIAO. CHUẨN BỊ TIẾP XÚC, ĐÀM THOẠI. NGHỆ THUẬT TIẾP XÚC, ĐÀM THOẠI. SAU TIẾP XÚC, ĐÀM THOẠI.98 Chương VI. CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU Ở CƠ QUAN ĐẠI DIỆN NGOẠI GIAO. TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÔNG TÁC THÔNG TIN, CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU. YÊU CẦU ĐỐI VỚI THÔNG TIN NGOẠI GIAO. NGUỒN THÔNG TIN. XỬ LÝ THÔNG TIN: CÁC HÌNH THỨC BÁO CÁO THÔNG TIN. 106 Chương VII. CÔNG TÁC LÃNH SỰ. VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CƠ QUAN LÃNH SỰ. TỔNG QUÁT CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ LÃNH SỰ. HỆ THỐNG CƠ QUAN LÃNH SỰ. THÀNH LẬP CƠ QUAN LÃNH SỰ. NHIỆM VỤ CỤ THỂ CỦA LÃNH SỰ NGOÀI NƯỚC. 119 Chương VIII. CÔNG TÁC THÔNG TIN, BÁO CHÍ VÀ THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI. NHẬN THỨC CHUNG VỀ CÔNG TÁC BÁO CHÍ - THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI. CÔNG TÁC BÁO CHÍ - THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI CỦA BỘ NGOẠI GIAO. MỘT SỐ CÔNG TÁC BÁO CHÍ - THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI CHỦ YẾU HIỆN NAY. 159 Chương IX. KHÁI NIỆM NGOẠI GIAO VĂN HÓA. TẦM QUAN TRỌNG CỦA NGOẠI GIAO VĂN HÓA. NỘI HÀM CỦA NGOẠI GIAO VĂN HÓA. CÁC LOẠI HÌNH HOẠT ĐỘNG CHÍNH CỦA NGOẠI GIAO VĂN HÓA. CÔNG TÁC VĂN HOÁ ĐỐI NGOẠI CỦA BỘ NGOẠI GIAO. NGOẠI GIAO KINH TẾ. NHẬN THỨC VỀ NGOẠI GIAO KINH TẾ. NỘI DUNG NGOẠI GIAO KINH TẾ. MỘT SỐ KỸ NĂNG TIẾN HÀNH NGOẠI GIAO KINH TẾ. 186 Chương XI. ĐÀM PHÁN QUỐC TẾ. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÀM PHÁN NGOẠI GIAO. KỸ THUẬT ĐÀM PHÁN NGOẠI GIAO. PHONG CÁCH DÂN TỘC TRONG ĐÀM PHÁN NGOẠI GIAO. 223 Chương XII. VĂN KIỆN NGOẠI GIAO. CÁC LOẠI VĂN KIỆN NGOẠI GIAO. SOẠN THẢO VĂN KIỆN NGOẠI GIAO.250 Chương XIII. NGOẠI GIAO ĐA PHƯƠNG. NHẬN THỨC CHUNG VỀ NGOẠI GIAO ĐA PHƯƠNG. VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NGOẠI GIAO ĐA PHƯƠNG. QUY TRÌNH HỘI NGHỊ QUỐC TẾ CẤP CHÍNH PHỦ. ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ ĐA PHƯƠNG. NGOẠI GIAO ĐA PHƯƠNG CỦA VIỆT NAM. 261 Chương XIV. LỄ TÂN NGOẠI GIAO. LỄ TÂN NGOẠI GIAO TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ. VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ LỄ TÂN NGOẠI GIAO. NGHI THỨC ĐÓN TIẾP NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU CƠ QUAN ĐẠI DIỆN NGOẠI GIAO VÀ ĐÓN LÃNH ĐẠO CẤP CAO NƯỚC NGOÀI. NGÔI THỨ NGOẠI GIAO. VỊ TRÍ DANH DỰ VÀ CÁCH SẮP XẾP CHỖ. TIỆC NGOẠI GIAO. XƯNG HÔ VÀ CÁC CÂU LỊCH SỰ XÃ GIAO PHỔ BIẾN VÀ THÔNG DỤNG NHẤT. TẶNG QUÀ, ĐỒ LƯU NIỆM. PHÉP LỊCH SỰ XÃ GIAO. 295 Chương XV. QUYỀN ƯU ĐÃI, MIỄN TRỪ NGOẠI GIAO, LÃNH SỰ VÀ CÁC TỔ CHỨC QUỐC TẾ. VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ QUYỀN ƯU ĐÃI, MIỄN TRỪ NGOẠI GIAO. QUYỀN ƯU ĐÃI, MIỄN TRỪ NGOẠI GIAO. QUYỀN ƯU ĐÃI, MIỄN TRỪ LÃNH SỰ. QUYỀN ƯU ĐÃI, MIỄN TRỪ ĐỐI VỚI LIÊN HỢP QUỐC VÀ CÁC TỔ CHỨC QUỐC TẾ.306 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.308 4 LỜI NHÀ XUẤT BẢN Ngoại giao là một lĩnh vực nghiên cứu rộng lớn, bao hàm nhiều nội dung. Công tác ngoại giao vừa là khoa học vừa là nghệ thuật. Trong lịch sử ngoại giao thế giới đã có nhiều sách, tài liệu về ngoại giao và công tác ngoại giao. Đối với Việt Nam, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, các hoạt động ngoại giao càng trở nên sâu rộng, đặc biệt là khi Việt Nam mở rộng và tham gia ngày càng sâu vào các quan hệ đa phương; Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO),…. Nhiệm vụ của ngoại giao và công tác ngoại giao là giữ vững môi trường hòa bình, tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đầu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Vì vậy, yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, phong cách đối ngoại là rất lớn, Để cung cấp cho bạn đọc, đặc biệt là những người làm công tác đối ngoại, những hiểu biết cụ thể trong công tác ngoại giao. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật tổ chức xuất bản lần thứ tự cuốn sách Ngoại giao và công tác ngoại giao do GS. Vũ Dương Huân, nguyên Giám đốc Học viện Ngoại giao, nguyên Đại sứ Việt Nam ở Ba Lan, Ucraina, nguyên Tổng lãnh sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Viễn Đông, Liên bang Nga biên soạn. Cuốn sách có 15 chương, giới thiệu một cách hệ thống các nội dung của ngoại giao như: các khái niệm ngoại giao, cơ quan đại diện ngoại giao, thư tín ngoại giao, tiếp xúc ngoại giao, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa, đàm phán ngoại giao, văn kiện ngoại giao, lễ Tần ngoại giao, v. Trong lần xuất bản này, tác giả đã sửa chữa, bổ sung thêm nhiều thông tin mới. Cuốn sách có thể xem là một giá trình phục vụ việc giảng dạy và học tập trong ngành quan hệ quốc tế, là một tài liệu tham khảo bổ ích phục vụ công tác bồi dưỡng cán bộ về hội nhập quốc tế, đồng thời góp phần đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu của đông đảo bạn đọc. Xin giới thiệu cuốn sách với bạn đọc. Tháng 5 năm 2018 NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT 5 LỜI TỰA CHO LẦN XUẤT BẢN THỨ TƯ Trước hết, tôi xin trân trọng cảm ơn Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật đã quyết định xuất bản cuốn sách Ngoại giao và công tác ngoại giao của tôi, lần đầu tiên ra mắt bạn đọc vào năm 2009, lần thứ hai vào năm 2010 và lần thứ ba vào năm 2015. Xuất bản lần này so với bản năm 2015 có một số bổ sung, chỉnh sửa sau đây: Trước hết, tháng 01-2016, Đảng ta đã tiến hành Đại hội lần thứ XII, bổ sung và phát triển đường lối, chính sách của Đại hội lần thứ XI (2011). Đồng thời, ngày 21-11-2017, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã bổ sung, chỉnh sửa và thông qua Luật cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài năm 2009. Mặt khác, Chính phủ ban hành Nghị định số 26/2017/NĐ-CP thay cho nghị định số 58/2013/NĐ-CP… Chính vì vậy, cần phải chỉnh sửa nội dung cuốn sách cho phù hợp với những văn bản mới. Thứ hai, trong lần tái bản này, một số chương cũng được hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu cao hơn của người đọc, thí dụ: bổ sung khái niệm Ngoại giao công chúng tại chương I, chỉnh sửa một số nội dung của chương IX. Ngoài ra, tác giả cũng có những chỉnh sửa, chủ yếu là cập nhật thông tin ở một số chương khác. Tôi hy vọng, những bổ sung, chỉnh sửa đó sẽ đáp ứng yêu cầu của bạn đọc. VŨ DƯƠNG HUÂN 6 Chương I. NHẬN THỨC CHUNG VỀ NGOẠI GIAO VÀ CÔNG TÁC NGOẠI GIAO I. KHÁI NIỆM NGOẠI GIAO 1. Nhận thức về ngoại giao trên thế giới Từ “ngoại giao" có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp "diploma". Ở Hy Lạp cổ đại, người ta trao cho sứ giả đi đàm phán với quốc gia khác giấy chứng nhận, giấy ủy quyền. Khi đến nước tiếp nhận, các sứ giả trao giấy ủy quyền hay giấy chứng nhận đó cho người phụ trách công tác đối ngoại của quốc gia đó. Văn bản này được gọi là “diploma”. Từ đấy xuất hiện từ “diplomacy”, nghĩa là ngoại giao. Tuy nhiên, bản thân từ ngoại giao sau này mới được sử dụng. Vào lúc giao thời giữa thế kỷ XVI - XVII, bên cạnh Quân vương, trong triều đình đã hình thành một cơ quan chuyên trách về đối ngoại. Nhiệm vụ của cơ quan này là trao đổi công văn, giữ quan hệ giữa các quân vương, tiếp nhận các vị sứ giả, tiếp đón các đoàn đại biểu nước ngoài, Ở nước Anh, từ “ngoại giao” được sử dụng đầu tiên vào năm 16451. Năm 1693, một nhà triết học, ngôn ngữ học và toán học người Đức, theo yêu cầu của Pie Đại đế của nước Nga, đã soạn ra Bộ luật Ngoại giao. Mặc dù đã xuất hiện từ lâu, song khái niệm "ngoại giao" đến nay được hiểu khá khác nhau, Xin nêu vài ví dụ. Trước hết, nhà ngoại giao, nhà báo người Anh Nicolson cho rằng: “Trong ngôn ngữ nói, từ ngoại giao được sử dụng để Làm chỉ nhiều nội dung rất khác nhau. Nó được hiểu là quan hệ đối ngoại. Trong các trường hợp khác lại ngụ ý là đàm phán. Từ đó cũng được sử dụng để nói đến cơ quan ở nước ngoài của Bộ Ngoại giao. Cuối cùng từ đó còn có nghĩa là khả năng đặc biệt khôn khéo trong đàm phán quốc tế và với nghĩa xấu là xảo quyệt trong thương lượng”2. Từ nhận thức trên, ông đồng tình với khái niệm về ngoại giao trình bày trong Từ điển tiếng Anh Oxford: “Ngoại giao là việc tiến hành quan hệ quốc tế bằng cách đàm phán, là phương pháp mà các đại sứ, công sứ. sử dụng để điều chỉnh và tiến hành các quan hệ đó, là công tác hoặc nghệ thuật của nhà ngoại giao”3. Nhà nghiên cứu luật quốc tế người Bỉ nhấn mạnh các khía cạnh khác nhau của từ “ngoại giao”. Trước hết, ngoại giao là khoa học và nghệ thuật của cơ quan đại diện quốc gia và trong việc đàm phán. Đây cũng là một từ được sử dụng ít nhiều với nghĩa rộng, ám chỉ tổng thể các cơ quan đại diện của quốc gia, kể cả Bộ Ngoại giao hoặc là tổng thể các đại diện chính trị của họ. Cuối cùng, từ “Ngoại giao còn có nghĩa là nghề nghiệp của nhà ngoại giao”4. Trong cuốn Giáo trình Ngoại giao, ông Garden cho rằng, với nghĩa rộng “Ngoại giao là khoa học về quan hệ đối ngoại", còn theo nghĩa hẹp "Ngoại giao là nghệ thuật đàm phán chính thức"5.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ