CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG CỦA PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH Mã chương: 2301 Mục tiêu: - Trình bày được khái niệm, ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh doanh trong hệ thống quản lý doanh nghiệp - Nhận biết được đối tượng nghiên cứu của phân tích hoạt động kinh doanh - Vận dụng được 4 phương pháp phân tích chủ yếu nhất của phân tích hoạt động kinh doanh vào phân tích hoạt động kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp - Phân loại được các hình thức phân tích hoạt động kinh doanh để vận dụng vào tổ chức phân tích hoạt động kinh doanh ở doanh nghiệp - Trung thực, nhanh nhẹn nắm bắt hoạt động của doanh nghiệp Nội dung: 1. Khái niệm, nội dung và ý nghĩa của ph©n tÝch ho¹t ®éng kinh doanh 1.1 Kh¸i niÖm “Phân tích, hiểu theo nghĩa chung nhất là sự chia nhỏ sự vật và hiện tượng trong mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận cấu thành sự vật, hiện tượng đó” “Phân tích hoạt động kinh doanh (PTKD) là quá trình nghiên cứu để đánh giá toàn bộ quá trình và kết quả của hoạt động kinh doanh; các nguồn tiềm năng cần khai thác ở doanh nghiệp (DN), trên cơ sở đó đề ra các phương án và giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DN” Trước đây, trong điều kiện sản xuất kinh doanh đơn giản và với quy mô nhỏ, yêu cầu thông tin cho nhà quản trị chưa nhiều và chưa phức tạp, công việc phân tích thường được tiến hành giản đơn, có thể thấy ngay trong công tác hạch toán. Khi sản xuất kinh doanh càng phát triển thì nhu cầu thông tin cho nhà quản trị càng nhiều, đa dạng và phức tạp.
PTKD hình thành và phát triển như một môn khoa học độc lập, để đáp ứng nhu cầu thông tin cho các nhà quản trị. Phân tích như là một hoạt động thực tiễn, vì nó luôn đi trước quyết định và là cơ sở cho việc ra quyết định. PTKD như là một ngành khoa học, nó nghiên cứu một cách có hệ thống toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh để từ đó đề xuất những giải pháp hữu hiệu cho mỗi DN. Như vậy, PTKD là quá trình nhận biết bản chất và sự tác động của các mặt 7 của hoạt động kinh doanh, là quá trình nhận thức và cải tạo hoạt động kinh doanh một cách tự giác và có ý thức, phù hợp với điều kiện cụ thể của từng DN và phù hợp với yêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan nhằm mang lại hiệu quả kinh doanh cao.2 §èi tưîng cña ph©n tÝch ho¹t ®éng kinh doanh Với tư cách là một khoa học độc lập, PTKD có đối tượng riêng: “Đối tượng của phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình và kết quả của hoạt động kinh doanh cùng với sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình và kết quả đó, được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế” Kết quả kinh doanh mà ta nghiên cứu có thể là kết quả của từng giai đoạn riêng biệt như kết quả mua hàng, kết quả sản xuất, kết quả bán hàng.
hay có thể là kết quả tổng hợp của quá trình kinh doanh, kết quả tài chính.v Khi phân tích kết quả kinh doanh, người ta hướng vào kết quả thực hiện các định hướng mục tiêu kế hoạch, phương án đặt ra. Ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh doanh Hoạt động kinh doanh là một hoạt động tạo ra doanh thu và lợi nhuận chủ yếu cho doanh nghiệp. Với mục đích kiếm lợi, các doanh nghiệp thuộc các loại hình và các hình thức sở hữu khác nhau, trong bất cứ lĩnh vực nào. Nếu không hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp sẽ không bù đắp được chi phí bỏ ra, không có nguồn tích lũy để tái sản xuất mở rộng, không có ngân sách, không tạo ra công ăn việc làm.
Không hoạt đông kinh doanh thì doanh nghiệp sẽ không tồn tại, không phát triển không đóng góp cho xã hội. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có thể phân ra 3 quá trình: Quá trình cung cấp, Quá trình sản xuất, Quá trình tiêu thụ. Qua trình cung cấp: là quá trình khởi đầu của một doanh nghiệp sau khi hoàn tất quá trình đầu tư. Nếu không có quá trình cung cấp doanh nghiệp không thể tiến hành hoạt động kinh doanh được.
Có quá trình cung cấp thì mới có quá trình sản xuất và tiêu thụ. Hoạt động cung cấp bao gồm cả việc đầu tư, trang bị tài sản cố định cho hoạt động kinh doanh. Quá trình sản xuất: là hoạt động tiếp theo sau quá trình cung cấp mà các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất hay cung ứng dịch vụ tiến hành. Qua trình sản xuất được thực hiện nhờ: Lao động, tư liệu sản xuất và đối tượng lao động.
8 Quá trình tiêu thụ: là hoạt động cuối cùng của hoạt động kinh doanh. Tại đây hàng hóa sẽ được tiêu thụ, doanh nghiệp thu được tiền, người mua chấp nhận thanh toán. Nhiệm vụ của phân tích hoạt động kinh doanh Hoạt động phân tích kinh doanh là hoạt động quyết định sự sống còn của doanh nghiệp vì nó mang lại doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp. Để hoạt động kinh doanh mang lại hiệu quả cao, nhà quản lý phải xem xét toàn diện kết quả và hiệu quả của tất cả các công đoạn, các quá trình, các hoạt động cấu thành.
Chính vì sự quan trọng của phân tích hoạt động kinh doanh đối với hoạt động cung cấp, hoạt động sản xuất và hoạt động tiêu thụ. Ví ý nghĩa đó, phân tích hoạt động kinh doanh có các nhiệm vụ chủ yếu sau: Đánh giá khái quát kết quả và hiệu quả cua hoạt động kinh doanh. Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả của quá trình kinh doanh. Chỉ ra nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả kinh doanh.
Vạch rõ tiềm năng chưa khai thác đề xuất các giải pháp hữu hiệu để nâng cao hiểu quả của kinh doanh. Nội dung của phân tích hoạt động kinh doanh Phân tích kinh doanh không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả kinh doanh thông các chỉ tiêu kinh tế mà còn đi sâu nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh biểu hiện trên các chỉ tiêu đó. Một cách chung nhất, nhân tố là những yếu tố bên trong của mỗi hiện tượng, quá trình.và mỗi biến động của nó tác động trực tiếp hoặc gián tiếp ở một mức độ và xu hướng xác định đến các kết quả biểu hiện các chỉ tiêu. Ví dụ: Doanh thu bán hàng phụ thuộc vào lượng bán hàng ra, giá cả bán ra và cơ cấu tiêu thụ.
Ðến lượt mình, khối lượng hàng hoá bán ra, giá cả hàng hoá bán ra, kết cấu hàng hoá bán ra lại chịu tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau như khách quan, chủ quan, bên trong, bên ngoài. Theo mức độ tác động của các nhân tố, chúng ta có thể phân loại các nguyên nhân và nhân tố ảnh hưởng thành nhiều loại khác nhau, trên các góc độ khác nhau. - Trước hết theo tính tất yếu của các nhân tố: có thể phân thành 2 loại: Nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan. 9 Nhân tố khách quan là loại nhân tố thường phát sinh và tác động như một yêu cầu tất yếu nó không phụ thuộc vào chủ thể tiến hành hoạt động kinh doanh.
Kết quả hoạt động của mỗi DN có thể chịu tác động bởi các nguyên nhân và nhân tố khách quan như sự phất triển của lực lượng sản xuất xã hội, luật pháp, các chế độ chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước, môi trường, vị trí kinh tế xã hội, về tiến bộ khoa học kỹ thuật và ứng dụng. Các nhân tố này làm cho giá cả hàng hoá, giá cả chi phí, giá cả dịch vụ thay đổi, thuế suất, lãi suất, tỷ suất tiền lương.cũng thay đổi theo. Nhân tố chủ quan là nhân tố tác động đến đối tượng nghiên cứu phụ thuộc vào nỗ lực chủ quan của chủ thể tiến hành kinh doanh. Những nhân tố như: trình độ sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn, trình độ khai thác các nhân tố khách quan của DN làm ảnh hưởng đến giá thành, mức chi phí thời gian lao động, lượng hàng hoá, cơ cấu hàng hoá.
- Theo tính chất của các nhân tố có thể chia ra thành nhóm nhân tố số lượng và nhóm các nhân tố chất lượng. - Kết quả kinh doanh thông thường được biểu hiện dưới các chỉ tiêu kinh tế. Chỉ tiêu là sự xác định về nội dung và phạm vi của các kết quả kinh doanh. Nội dung chủ yếu của phân tích kết quả là phân tích các chỉ tiêu kết quả kinh doanh mà DN đã đạt được trong kỳ, như doanh thu bán hàng, giá trị sản xuất, giá thành, lợi nhuận.Tuy nhiên, khi phân tích các chỉ tiêu kết quả kinh doanh chúng ta phải luôn luôn đặt trong mối quan hệ với các điều kiện (yếu tố) của quá trình kinh doanh như lao động, vật tư, tiền vốn, diện tích đất đai.
Ngược lại, chỉ tiêu chất lượng phản ánh lên hiệu quả kinh doanh hoặc hiệu suất sử dụng các yếu tố kinh doanh như giá thành, tỷ suất chi phí, doanh lợi, năng suất lao động. - Dựa vào mục đích phân tích mà chúng ta cần sử dụng các loại chỉ tiêu khác nhau, cụ thể: Chỉ tiêu số tuyệt đối, chỉ tiêu số tương đối, chỉ tiêu bình quân. Chỉ tiêu số tuyệt đối dùng để đánh giá quy mô kết quả kinh doanh hay điều kiện kinh doanh. Chỉ tiêu số tương đối dùng trong phân tích các mối quan hệ giữa các bộ phận, các quan hệ kết cấu, quan hệ tỷ lệ và xu hướng phát triển.
Chỉ tiêu bình quân phản ánh trình độ phổ biến của các hiện tượng. - Tuỳ mục đích, nội dung và đối tượng phân tích để có thể sử dụng các chỉ tiêu 10 hiện vật, giá trị, hay chỉ tiêu thời gian. Ngày nay, trong kinh tế thị trường các DN thường dùng chỉ tiêu giá trị. Tuy nhiên, các DN sản xuất, DN chuyên kinh doanh một hoặc một số mặt hàng có quy mô lớn vẫn sử dụng kết hợp chỉ tiêu hiện vật bên cạnh chỉ tiêu giá trị.
Trong phân tích cũng cần phân biệt chỉ tiêu và trị số chỉ tiêu. Chỉ tiêu có nội dung kinh tế tương đối ổn định, còn trị số chỉ tiêu luôn luôn thay đổi theo thời gian và địa điểm cụ thể. Nhân tố số lượng phản ánh quy mô kinh doanh như: Số lượng lao động, vật tư, lượng hàng hoá sản xuất, tiêu thụ. Ngược lại, nhân tố chất lượng thường phản ánh hiệu suất kinh doanh như: Giá thành, tỷ suất chi phí, năng suất lao động.