một khoản tiên dé sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc va lãi” (Khoản 16 Điều 4 Luật Các tô chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bố sung năm 2017). Còn trong BLDS năm 2015, Điều 463 định nghĩa về hợp đồng vay như sau: “Hop dong vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”. Định nghĩa này đã thé hiện được các yêu tố sau đây của hợp đồng vay tài sản: - Cơ sở hình thành hợp đồng: Hop dong vay tai sản là kết quả của sự thỏa thuận giữa các bên. - Chủ thể của hợp đồng vay gồm bên cho vay và bên vay.
Trong đó, bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng. - Hợp đồng vay tài sản gồm hop đồng vay có lãi và hợp đồng vay không có lãi. Hợp đồng vay tài sản là hợp đồng có mục đích chuyên quyền sở hữu đối với tài sản vay. Thời điểm chuyên quyền sở hữu đối với tài sản vay là thời điểm bên vay nhận tài sản đó.
Khi bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản vay, bên vay sẽ có toàn quyên chiếm hữu, sử dụng, định đoạt số tài sản đã vay, trừ trường hợp có điều kiện của bên cho vay về việc sử dụng tài sản. Hợp đồng vay tài sản là một loại hợp đồng phô biến trên thực tế, được xác lập hàng ngày, hàng giờ cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội. Hợp đồng vay giúp cho bên vay (bao gôm cả cá nhân và 293 doanh nghiệp) giải quyết được những khó khăn về vốn, duy trì cuộc sống hoặc hoạt động sản xuất, kinh doanh bình 6n. Bên cạnh trường hợp vay có lãi, hợp đồng vay tài sản không có lãi thường xuất phát từ mục đích tương trợ, giúp đỡ của bên cho vay đối với bên vay.
Còn đối với bên cho vay tài sản, hợp đồng vay tài sản (trường hợp có lãi) giúp ho sử dụng được nguồn von nhàn rỗi một cách hiệu quả, mang lại lợi ích kinh tế cho mình thông qua việc nhận tiền lãi. Đặc biệt, đối với ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, cho vay là nghiệp vụ quan trọng không thể thiếu trong hoạt động của những chủ thể này nhằm luân chuyền vốn cho các chủ thể có nhu cầu, qua đó làm cho nguồn vốn sinh lợi. Hợp đồng vay tài sản có các đặc điểm pháp lí sau đây: Một là, hợp đồng vay tài sản là hợp đồng ưng thuận BLDS năm 2015 không có quy định riêng về thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng vay tài sản. Do đó, về nguyên tắc chung, hợp đồng vay tài sản được xác định là hợp đồng ưng thuận.
Điều này được hiểu, hợp đồng vay tài sản có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Hai là, hợp đồng vay tài sản là hợp đồng có đền bù hoặc không có đền bù Hợp đồng vay có đền bù khi là vay có lãi. Khoản lãi chính là lợi ích vật chất mà bên cho vay nhận được từ hợp đồng vay. Lãi trong hợp đồng vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá mức lãi suất trần được ghi nhận trong BLDS năm 2015 (không vượt quá 20%/nam).
Trường hợp bên cho vay không lấy lãi đối với bên vay thì đây là hợp đồng vay không có đền bù. Hợp đồng vay không có đền bù được xác lập phố biến với những người có quan hệ thân thích, tình cảm. mang tính chất tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau. 294 Ba là, hợp đồng vay tài sản là hợp đồng song vụ Trong hợp đồng vay tài sản, cả bên cho vay và bên vay đều có nghĩa vụ đối với nhau.
Do đó, hợp đồng vay tài sản là hợp đồng song vụ. BLDS năm 2015 đã quy định cụ thé nghĩa vụ của bên cho vay (Điều 465) cũng như nghĩa vụ trả nợ của bên vay (Điều 466). Theo đó, bên cho vay có nghĩa vụ giao tài sản cho bên vay day đủ, đúng chất lượng, số lượng vào thời điểm và địa điểm đã thỏa thuận; bồi thường thiệt hai cho bên vay, nếu bên cho vay biết tài sản không bảo đảm chất lượng mà không báo cho bên vay biết, trừ trường hợp bên vay biết mà vẫn nhận tài sản đó; không được yêu cầu bên vay trả lại tài sản trước thời hạn, trừ trường hợp quy định tại Điều 470 BLDS năm 2015 hoặc luật khác có liên quan quy định khác. Còn bên vay có nghĩa vụ trả đủ tiền khi đến hạn (nếu tài sản vay là tiền).
Trường hợp tai sản vay là vat thì bên vay có nghĩa vụ phải trả vat cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Ngoài ra, bên vay còn có nghĩa vụ trả tiền lãi cho bên cho vay nếu các bên có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định. Đối tượng của hop dong vay tài sản Hợp đồng vay có đối tượng là tài sản. Tài sản gồm vật, tiền, giấy tờ có giá, quyên tài sản.
Đối tượng phố biến của hợp đồng vay tài sản bao gồm tiền, vật cùng loại nhưng là vật tiêu hao. Trên thực tế, đối tượng phô biến nhất của hợp đồng vay là tiền, bao gồm nội tệ và ngoại tệ. Đối với nội tệ, các bên được quyền xác lập hợp đồng vay mà không chịu sự hạn chế nào của luật vì nội tệ là loại tiền tự do lưu thông. Khi các bên xác lập hợp đồng vay đối với ngoại tệ, bên cạnh việc tuân theo các quy định trong BLDS thì các bên còn phải chú trọng đến các quy định về điều kiện cho vay ngoại tệ được ghi nhận trong các văn bản pháp luật liên quan.
Ngoài ra, vàng, kim khí quý, đá quý hoặc các loại tài sản có giá trị khác 295 (thóc, gạo.) cũng là những đối tượng vay phổ biến trên thực tế. Khi kết thúc thời hạn vay, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng; do đó, khi đối tượng vay là vật thì vật thuộc nhóm vật cùng loại. Đối tượng vay được chuyên sở hữu từ bên cho vay sang bên vay. Khi bên vay đã xác lập quyền sở hữu đối với tài sản vay, họ có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản vay.
Chính bởi vậy, hợp đồng vay tài sản được xếp vào nhóm hợp đồng chuyền quyền sở hữu tài sản. Thời điểm xác lập quyên sở hữu doi với tài sản vay Thời điểm xác lập quyền sở hữu của bên vay đối với tài sản vay được xác định theo Điều 464 BLDS năm 2015: “Bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản vay kế từ thời điểm nhận tài sản đỏ”. Các bên có thê thỏa thuận về thời điểm giao, nhận tài san vay theo một đơn vị thời gian xác định hoặc thông qua một sự kiện cụ thé. Vi du, A cho B vay số tiền là 10.000 đồng và thỏa thuận khi nào nhận được tiền lương thì sẽ chuyền giao tiền cho B.
Đây là trường hợp bên cho vay và bên vay thỏa thuận thời điểm giao, nhận tài sản vay theo một sự kiện cụ thé. Việc xác định chính xác thời điểm giao, nhận tài sản vay có ý nghĩa quan trọng dé qua đó biết được chính xác thời điểm bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản vay. Kê từ thời điểm tài sản vay thuộc sở hữu của bên vay, bên vay có quyền: chiếm hữu sử dụng, định đoạt đối với tài sản vay theo ý chí của mình, trừ trường hợp bên vay phải sử dụng theo đúng mục đích đã cam kết với bên cho vay. Sứ dụng tài san vay Hợp đồng vay là hợp đồng chuyên quyền sở hữu tài sản, do đó, kê từ thời điểm nhận tai sản vay thì bên vay trở thành chủ sở hữu đối với tài sản.
Theo nguyên tắc chung, chủ sở hữu có toàn quyền sử dụng, định đoạt theo ý chí của mình (phù hợp với quy định của luật), do đó, thông thường khi bên vay đã trở thành chủ sở hữu tài sản vay 296 thì họ có toàn quyền sử dụng tài sản theo mục đích của mình. Tuy nhiên, có một số hợp đồng vay, nhằm kiểm soát số tiền cho vay của mình được sử dụng một cách hiệu quả thì bên cho vay còn thỏa thuận cụ thé với bên vay về mục đích sử dụng tài sản vay. Việc thỏa thuận mục đích sử dụng tiền vay nhằm hạn chế trường hợp bên vay lãng phí tài sản có thé dẫn đến tình trạng bên vay mat kha năng thanh toán nợ đến hạn, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thu hồi vốn của bên cho vay. Thông thường, thỏa thuận về mục đích sử dụng tài sản vay thường áp dụng đối với trường hợp cho vay với mục đích hỗ trợ phát triển kinh tế, thoát nghèo hoặc hợp đồng tín dụng.
Khi các bên đã thỏa thuận, thống nhất về mục đích sử dụng tài sản vay thì bên vay phải tuân thủ cam kết đó. Nhằm xác định việc sử dụng đúng mục đích khoản tiền vay của bên vay thì bên cho vay có quyền kiểm tra việc sử dung tài sản đó. Dé chứng minh việc sử dụng đúng mục đích của khoản tiền vay thì bên vay cần phải xuất trình được các chứng cứ cụ thé như hóa đơn, biên lai của các khoản chi tiêu. Trong trường hợp bên cho vay phát hiện bên vay sử dụng tài sản sai mục đích thì bên cho vay có quyền nhắc nhở, yêu cầu bên vay phải sử dụng tài sản vay theo mục đích đã cam kết.
Sau khi nhắc nhở mà bên vay vẫn tiếp tục sử dụng tài sản vay không đúng mục đích thì bên cho vay được quyên đòi lại tài sản vay trước thời hạn (Điều 467 BLDS năm 2015). Ví dụ, A thỏa thuận cho B vay số tiền là 15.000 đồng trong thời gian 06 tháng để B mua con giống về nuôi nhằm phát triển kinh tế. Tuy nhiên, sau đó qua kiểm tra A phát hiện B không dùng số tiền này để mua con giống theo như cam kết. Do đó, A được quyền đòi lại số tiền 15.000 đồng trước thời hạn.