chứng khoán là bảo đảm độ tin cậy cao và hạn chế rủi ro đồng thời đáp ứng yêu cầu của thị trường chứng khoán là thị trường mang tính quốc tế cao. “Các công tỉ đối nhân (công tỉ hợp danh, công ti hợp vốn don giản) không được phép kinh doanh chứng khoán. Lí do là những loại hình công ti này được tổ chức rat lỏng lẻo nên về mặt pháp lí không đáp ứng được đòi hỏi rất đặc thù cua hoạt động kinh doanh chứng khoán là bảo dam độ tin cay cao va han ché rui ro A é K 2. x (1 Thứ ba, về phương diện quan lí nha nước: Công ti chứng khoán đặt dưới sự quản lí nhà nước trực tiếp của cơ quan quản lí chuyên trách.
Ở Việt Nam, công ti chứng khoán chịu sự quản li, giám sát trực tiếp bởi UBCKNN. Thứ tư, pháp luật điều chỉnh: Công ti chứng khoán là doanh nghiệp được thành lập, hoạt động trên cơ sở Luật Chứng khoán và các quy định của pháp luật có liên quan. Các loại hình công ti chứng khoán Trên thế giới hiện nay, căn cứ vào phạm vi hoạt động nghiệp vụ mà luật cho phép thì công ti chứng khoán được chia thành các loại hình sau: - Công ti chứng khoán chuyên doanh là loại hình công ti chứng khoán chỉ được thực một hoặc một số hoạt động nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán nhất định mà không được thực hiện tất cả các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán. Đặc biệt các nghiệp vụ kinh doanh có khả năng dẫn đến mâu thuẫn hoặc xung đột lợi ích với nhau.
Loại hình công ti chứng khoán này có ở Mỹ, Nhật, Canada, Hàn Quốc. Hoàng Thế Liên, ThS. Đặng Vũ Huân, “Dia vị pháp lí của các chủ thê tham gia thị trường chứng khoán”, 7hông tin Khoa học pháp li, so 9/1999, Chuyên đê pháp luật vê chứng khoán và thị trường chứng khoán, tr. 211 - Công ti chứng khoán đa nghiệp vụ là loại hình công ti chứng khoán được thực hiện nhiều nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán thuộc về công ti chứng khoán khác nhau.
Nhưng dé hạn chế xung đột lợi ích giữa các hoạt động nghiệp vụ mà công ti chứng khoán thực hiện thì pháp luật quy định rõ phải tách biệt các hoạt động nghiệp vụ kinh doanh có khả năng dẫn đến xung đột lợi ích. Các ngân hàng, các công ti bảo hiểm muốn kinh doanh chứng khoán phải thành lập công ti chứng khoán trực thuộc có tư cách pháp nhân để tiến hành kinh doanh chứng khoán. Loại hình công ti chứng khoán này có ở các nước thuộc châu Âu lục địa; - Công ti kinh doanh chứng khoán đa năng hoàn toàn là loại hình tổ chức kinh doanh chứng khoán được thực hiện đồng thời các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán và cả nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng, bảo hiểm. Các ngân hàng, công ti bảo hiểm được kinh doanh chứng khoán bên cạnh nghiệp vụ kinh doanh chính là tiền tệ, bảo hiểm.
Mô hình công ti kinh doanh chứng khoán đa năng này có ở Đức, Úc. Nói chung mỗi mô hình công ti chứng khoán có ưu điểm và nhược điểm riêng. Chang hạn, mô hình chuyên doanh tạo cho công ti chứng khoán có tính chuyên môn hoá, chuyên nghiệp hoá cao, hạn chế được xung đột lợi ích giữa các nghiệp vụ kinh doanh trong một công ti chứng khoán đồng thời Nhà nước dé quản lí, giám sát hoạt động của các công ti chứng khoán, giảm bớt các rủi ro cho ca hệ thống tài chính. Tuy nhiên, mô hình công ti chứng khoán này phù hợp với nền kinh tế có thị trường chứng khoán phát triển.
Còn mô hình công ti kinh doanh chứng khoán đa năng có ưu điểm là có thê bổ sung, hỗ trợ cho nhau giữa các nghiệp vụ, giữa các lĩnh vực “có thé san đi, bù lại lợi nhuận và rủi ro” nên sức chống đỡ với thay đổi thường cao hơn. Mô hình công ti chứng khoán này có thé thích hợp ở những thị trường chứng khoán mới hình thành, thị trường chứng khoán nhỏ chưa phát triển mạnh. Tuy nhiên, mô hình này 212 có nhược điểm là kĩ năng nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán không mạnh, dễ dẫn đến tình trạng xung đột lợi ích giữa các nghiệp vụ kinh doanh, giữa các lĩnh vực kinh doanh, Nhà nước khó quản lí giám sát hoạt động của các công ti chứng khoán, dễ dẫn đến các rủi ro và tác động dây chuyền cho cả hệ thống tài chính. Vì thế, việc lựa chọn mô hình công ti chứng khoán nào phải xuất phát từ điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng quốc gia.
Ở Việt Nam, pháp luật quy định công ti chứng khoán nếu có đủ điều kiện thì được UBCKNN cấp giấy phép kinh doanh một hoặc một số hoặc tất cả các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán thuộc về nghiệp vu của công ti chứng khoán. Như vậy, pháp luật nước ta không cấm công ti chứng khoán được thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán thậm chí giữa các nghiệp vụ đó có thé nảy sinh xung đột lợi ích. Dé ngăn ngừa tinh trạng này pháp luật có quy định phải bảo đảm tách biệt các hoạt động có thê dẫn đến xung đột lợi ích trong một công ti chứng khoán. Như vậy, ở Việt Nam có tôn tại cả công ti chứng khoán đa nghiệp vu với công ti chứng khoán chuyên doanh.
Đối với các tổ chức tin dung, công ti bảo hiểm, muốn tham gia kinh doanh chứng khoán phải thành lập công ti cỗ phần hoặc công ti TNHH trực thuộc có tư cách pháp nhân dé kinh doanh chứng khoán. * Căn cứ hình thức tô chức pháp lí doanh nghiệp thì công tỉ chứng khoán chia thành hai loại: - Công ti chứng khoán cổ phan; - Công ti TNHH kinh doanh chứng khoán, trong đó có hai loại công ti TNHH hai thành viên trở lên và công ti TNHH một thành viên. * Căn cứ hình thức đầu tư và nguồn vốn của chủ sở hữu thì công ti chứng khoán được chia thành các loại sau: - Công ti chứng khoán 100% vốn trong nước. 213 - Công ti chứng khoán 100% vốn nước ngoài.
- Công ti chứng khoán hỗn hợp (có nhà dau tư trong nước va nha đầu tư nước ngoài tham gia góp vốn thành lập dưới hình thức liên doanh hoặc góp vốn, mua cô phan). Tỉ lệ tham gia của bên nước ngoài trong công ti chứng khoán không quá 49% vốn điều lệ của công ti. Trừ trường hợp nhà dau tư nước ngoài là tô chức đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 77 Luật Chứng khoán và người có liên quan được sở hữu đến 100% vốn điều lệ của công tỉ chứng khoán. Cụ thé: Tổ chức nước ngoài tham gia góp vốn thành lập, mua cô phan, phan vốn góp dé sở hữu 100% vốn điều lệ của công ti chứng khoán phải đáp ứng các điều kiện: Được cấp phép và có thời gian hoạt động liên tục trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm trong thời hạn 02 năm liền trước năm tham gia góp von thành lập, mua cô phan, phần vốn góp; Cơ quan cấp phép của nước nguyên xứ và UBCKNN đã kí kết thỏa thuận hợp tác song phương hoặc đa phương về trao đổi thông tin, hợp tác quản lí, thanh tra, giám sát hoạt động về chứng khoán và thị trường chứng khoán; Hoạt động kinh doanh có lãi trong 02 năm liền trước năm tham gia góp vốn thành lập, mua cô phan, phần vốn góp và báo cáo tài chính năm gần nhất phải được kiểm toán với ý kiến chấp nhận toàn phần." - Chi nhánh công ti chứng khoán nước ngoài tai Việt Nam.
Nhăm thu hút vốn, công nghệ từ nước ngoài, từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh và chủ động hội nhập thị trường tài chính quốc tế, Việt Nam đã cam kết mở cửa thị trường tài chính trong đó có dịch vụ chứng khoán theo lộ trình thích hợp. Chăng hạn, trong cam kết gia nhập WTO của Việt Nam về các dịch vụ chứng khoán, Việt Nam cam kết: Cho phép thành lập văn phòng đại diện, công (1).Xem: Khoản 2 Điều 77 Luật Chứng khoán năm 2019. 214 ti chứng khoán liên doanh trong đó nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu 49% vốn điều lệ của công ti ké từ thời điểm gia nhập. Cho phép thành lập công ti chứng khoán 100% vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam sau 5 năm ké từ khi gia nhập va cho phép công ti chứng khoán nước ngoài thành lập chi nhánh tại Việt Nam dé thực hiện việc cung cấp các dịch vụ chứng khoán sau 5 năm kê từ khi gia nhập đối với các dịch vụ như quản lí tài sản, thanh toán, tư vấn liên quan đến chứng khoán và cung cấp trao đồi thông tin tài chính.
QUY CHE THÀNH LẬP, HOAT ĐỘNG, GIẢI THE, PHA SAN CONG TI CHUNG KHOÁN 1. Điều kiện dé được cấp giấy phép thành lập hoạt động kinh doanh chứng khoán Kinh doanh chứng khoán là ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Luật chứng khoán ở các nước có quy định điều kiện hay tiêu chuẩn dé gia nhập thị trường của tô chức kinh doanh chứng khoán. Thông thường có 3 điều kiện cơ bản đó là: - Điều kiện về vốn pháp định: Đây là điều kiện quan trọng nhằm bảo đảm về mặt trách nhiệm tài sản đối với các nghĩa vụ của công ti trong hoạt động kinh doanh.
Mức vốn pháp định được xác định cho từng nghiệp vụ căn cứ vào mức độ rủi ro tương ứng với từng hoạt động nghiệp vụ đó. Những nghiệp vụ có mức độ rủi ro cao thì đòi hỏi mức vốn cao và ngược lại. - Điều kiện về nhân sự: Do tính chất đặc thù của hoạt động nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán đòi hỏi người điều hành và nhân viên thực hiện nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán phải có pham chat đạo đức nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn và tinh thông nghiệp vụ. - Điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, đây là điều kiện cần thiết để bảo đảm cho hoạt động kinh doanh chứng khoán.
Bởi vì công ti chứng khoán thường có chức năng lưu giữ các chứng 215 khoán và giấy tờ cần thiết, phải công bố thông tin cho người đầu tư. nên phải có đủ cơ sở vật chất và phương tiện dé lưu giữ hồ sơ, chứng từ được an toàn và có hệ thống thiết bi dé công bố thông tin đầy đủ, thuận tiện. Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, tô chức, cá nhân muốn kinh doanh chứng khoán tại Việt Nam thì phải thành lập công ti chứng khoán dưới hình thức công ti TNHH hoặc công ti cô phan và phải được UBCKNN cấp giấy phép thành lập và hoạt động.