Chương I, Chương VII (Mục I, II, II, V) TS. PHẠM TRÍ HÙNG Chương V GS. THÁI VĨNH THẮNG Chương II, Chương IV TS. LE MINH TIEN - Chương VII (Mục IV) TS.
NGUYEN QUOC HOAN PGS. NGUYEN THI ANH VÂN: Chương III, Chương VI LỜI NÓI ĐẦU Luật so sảnh là môn học còn kha mới trong chương trình đào tạo luật ở Việt Nam. Môn học này đang nhận được sự quan tâm sâu sắc của các luật gia, các nhà nghiên cứu pháp luật ở Việt Nam. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam tiễn hành đổi mới và hội nhập ngày càng toàn diện với thé giới về nhiều lĩnh vực, việc tìm hiểu, so sánh hệ thong pháp luật của các nước trong khu vực và trên thế giới có ý nghĩa quan trọng trong khoa học cũng như trong thực tiễn xây dung và thực thi pháp luật.
Đáp ứng nhu cau nghiên cứu, giảng day và học tập của sinh viên luật trong các cơ sở đào tạo pháp luật, nhu cau tìm hiểu và ứng dụng luật so sánh trong khoa học và thực tiễn pháp lí ở Việt Nam, Trung tâm luật so sánh thuộc Trường Đại học Luật Hà Nội đã tô chức biên soạn giáo trình luật so sánh nhằm góp phan bé sung nguôn tài liệu nghiên cứu, giảng dạy và học tập môn luật so sánh. Nội dung của giáo trình này được biên soạn trên cơ sở chương trình khung đào tạo đại học ngành luật đã được Bộ giáo đục và đào tạo ban hành. Bên cạnh đó, trên cơ sở nghiên cứu, tham khảo những tài liệu của môn học luật so sảnh dang được sử dụng ở nhiễu cơ sở đào tạo luật trên thé giới và trong khu vực, tập thé tác giả cố gắng biên soạn cuốn giáo trình này phù hợp với diéu kiện và hoàn cảnh ở Việt Nam hiện nay. Giáo trình luật so sánh bao gồm ba phan: Phan một: Những vấn dé chung về luật so sánh; Phan hai: Các dòng họ pháp luật cơ bản trên thé giới; Phan ba: Hệ thống pháp luật của một số quốc gia ở châu A.
Mac dù vậy, cũng can phải nói rang các vấn đề lí luận thuộc lĩnh vực luật so sánh từ tên gọi, bản chất, đối tượng đến phương pháp. vẫn là các vấn đề đang được tranh luận sôi nồi của các học giả ở rất nhiều nước trên thế giới. Thậm chí, những tranh luận đó vẫn chưa dừng lại ở cả những quốc gia có nên luật học phát triển. Hơn nữa, tìm kiếm được những thông tin chỉnh xác về pháp luật của nhiễu quốc gia trên thé giới để trình bày một cách có hệ thong từ góc độ luật so sánh trong giáo trình không phải là van dé đơn giản, nhất là thông tin về các hệ thong pháp luật mà ngôn ngữ sử dụng trong hệ thông pháp luật đó không thông dụng.
Vì vậy, giáo trình này khó tránh khỏi những khiếm khuyết. Chúng tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp dé trong những lan xuất bản tiếp theo giáo trình luật so sánh sẽ hoàn thiện hơn. Xin tran trọng giới thiệu cùng bạn đọc. TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI PHAN MOT NHUNG VAN DE CHUNG VE LUAT SO SANH CHUONG I NHAP MON LUAT SO SANH I.
KHAI NIEM LUAT SO SANH Mặc dù “Luật so sánh” đã có quá trình phát triển khá dai va đã có sự phát triển vượt bậc trong nửa cuối thé ki XX và đầu thé ki XXI, nhưng trong giới luật gia van còn có những ý kiến khác nhau về thuật ngữ “luật so sánh”. Trong nhiều công trình “Luật so sánh”, thuật ngữ “luật so sánh” đã trở thành nội dung quan trọng được luận bàn trước khi đề cập những vấn đề khác liên quan đến nội dung của “Luật so sánh”. Theo đó, bên cạnh thuật ngữ “luật so sánh” có nhiều thuật ngữ khác được sử dụng để nói đến lĩnh vực học thuật này như: “lập pháp so sánh” (comparative legislation), “luật học so sánh” (comparative jurisprudenee),t “so sánh luật”, “nghiên cứu so sánh pháp luật” (comparative legal study)”. Gutteridge, Comparative Law - An introduction to the comparative method of legal study and research, Cambridge University Press, 1971, tr.
2; Dennis Patterson, A companion to Philosophy of Law and Legal Theory, Blackwell Publishers, tr.Xem: Peter de Cruz, Comparative in a changing world, Cavendish Publishing Limited, 1999, tr. Trong số các thuật ngữ đó, hai thuật ngữ “luật học so sánh” và “luật so sánh” là trung tâm của sự tranh luận. Có ý kiến cho rằng không nên đồng nhất hai thuật ngữ “luật học so sánh” và “luật so sánh” vì thuật ngữ “luật học so sánh” có nội dung tổng hop hơn, rộng lớn hơn rất nhiều so với thuật ngữ “luật so sanh”.? Thậm chi, dé phân biệt hai thuật ngữ này có học giả đã cố gắng chỉ ra những nội dung cụ thể của “luật so sánh” và “luật học so sánh”.(2 Cũng có học giả cho rằng việc sử dụng thuật ngữ “luật so sánh” có thé đem đến nghi ngờ về sự tồn tại của ngành luật mới”) - ngành luật so sánh, giống như sự tồn tại của các ngành luật khác như luật hình sự, luật dân sự, luật hôn nhân và gia đình. để đi đến kết luận răng thuật ngữ “luật so sánh” không phản ánh được đúng bản chất và nội dung của lĩnh vực học thuật này.
Ở góc độ ngôn ngữ học, thuật ngữ được sử dụng dé chỉ lĩnh vực học thuật này có cau trúc không hoàn toàn thống nhất trong các ngôn ngữ khác nhau và vì thế, nghĩa của chúng cũng khác nhau. Thuật ngữ “comparative law” trong tiếng Anh và “droit comparé” trong tiếng Pháp có nghĩa là luật so sánh. Trong khi đó, thuật ngữ “Rechtsvergleichung” trong tiếng Đức có nghĩa là so sánh luật. Trong tiếng Việt, những băn khoăn về việc sử dụng thuật ngữ “luật so sánh” cũng đã được đề cap.
Võ Khánh Vinh, Giáo trinh luật học so sánh, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2002, tr.Xem: Wiliam Ewald, Comparative jurisprudence (i): what was it like to try a rat?, University of Pennsylvania Law Review, June 1995, tr. Võ Khanh Vinh, sđd, tr.Xem: Đỗ Văn Dai, “Suy nghĩ về nghiên cứu so sánh pháp luật”, Tap chi luật hoc, số 11/2007, tr. Mặc dù còn có nhiều ý kiến khác nhau, “luật so sánh” vẫn là thuật ngữ được sử dụng phổ biến nhất trong số đó.
“Luật so sánh” được sử dụng trong nhiều công trình viết bằng các ngôn ngữ khác nhau; là tên gọi của các tạp chí khoa học chuyên sâu về lĩnh vực này. Thuật ngữ “luật so sánh” cũng được sử dụng dé đặt tên cho môn học ở các trường đại học, các cơ sở đào tạo luật khác nhau ở nhiều nước trên thế giới và cũng là tên của nhiều tô chức có hoạt động gắn với lĩnh vực học thuật này. Trong các công trình khoa học pháp lí nói chung và lĩnh vực luật so sánh nói riêng, không có định nghĩa chung nào về luật so sánh.” Các học giả đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về luật so sánh. Điểm chung dễ nhận thấy về các định nghĩa của các học giả về luật so sánh là khi xây dựng định nghĩa về luật so sánh, các học giả thường tập trung vào đối tượng, chức nang,” hoặc đối tượng, phương pháp và mục dich của no.
Zweigert va Kotz trong công trình “Giới thiệu về luật so sánh” (Introduction to comparative law) định nghĩa “Luật so sánh là hoạt động trí tuệ mà pháp luật là đối tượng và so sánh là quá trình của hoạt động đó `. Hai học giả cũng khang định: “/udt so sánh là so sánh các hệ thong pháp luật khác nhau trên thé giới ”.) Peter de Cruz - tác giả của cuốn sách “Luật so sánh trong thế giới thay đổi” định nghĩa luật so sánh là “nghién cứu có hệ thong các truyền thong pháp luật (1) Xem: Esin Orucu, The Enigma of Comparative law — Variations on a Theme for the Twenty-First Century, Springer Science+Business Media Dordrecht, 2004, tr. Gutteridge, Comparative Law - An introduction to the comparative method of legal study and research, Cambridge University Press, 1971, tr.Xem: Thomas Lundmark, Charting the divide between Common law and Civil law, Oxford University Press, 2012, tr.Xem: Konrad Zweigert and Hein Kotz, [Introduction to Comparative Law, Clarendon Press - Oxford, 1998, tr. và các quy phạm pháp luật nào đó trên cơ sở so sánh ”Œ) dựa trên lập luận răng luật so sánh thường tập trung vào các truyền thống pháp luật lớn trên thế giới và để được coi là công trình luật so sánh, công trình đó đòi hỏi phải là sự so sánh hai hoặc nhiều hệ thống pháp luật hoặc truyền thống pháp luật hoặc so sánh các chế định, các ngành luật của hai hay nhiều hệ thống pháp luật.
Michael Bogdan định nghĩa luật so sánh bằng cách xác định những nội dung thành phần của nó. Michael Bogdan cho răng: “luật so sánh bao gom: So sánh các hệ thong pháp luật khác nhau để xác định những điểm tương đồng và khác biệt giữa chúng; Nghiên cứu những điểm tương đông và khác biệt đã duoc xác định, chang hạn, giải thích nguôn gốc của chúng, đánh giá những giải pháp được sử dụng trong các hệ thông pháp luật khác nhau, phân nhóm các hệ thong pháp luật thành các dòng họ pháp luật hoặc tim kiếm những điểm cốt lõi chung của các hệ thong pháp luật; và Làm rõ những van dé mang tính phương pháp luận nảy sinh có liên quan đến các nhiệm vụ trên, bao gồm cả những van dé có tính phương pháp luận liên quan đến việc nghiên cứu pháp luật nước ngoài ”. 6 Nghiên cứu các công trình luật so sánh của các học giả trên thế giới, chúng ta có thể đi đến một số nhận định cơ bản sau: Thứ nhất, luật so sánh không phải là một ngành luật hay một (1).Xem: Peter de Cruz, 1999, tr.Xem: Peter de Cruz, sdd, tr.Xem: Michael Bogdan, Comparative Law, Kluwer Norstedts Juridik Tano, 1994, tr. 10 lĩnh vực pháp luật thực định.
Điều đó có nghĩa là luật so sánh không phải là “hệ thong các quy phạm pháp luật có đặc tính chung để điều chỉnh các quan hệ xã hội cùng loại trong một lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội *!) theo quan niệm truyền thống về “ngành luật” của khoa học lí luận về pháp luật. Nói cách é A 6€ khác luật so sánh không phải là lĩnh vực pháp luật thực định như các lĩnh vực luật hiến pháp, luật hành chính, luật hình sự, luật dân sự. mặc dù thuật ngữ “luật so sánh” có thể dẫn đến việc hình dung về sự tồn tại của một hệ thống quy phạm pháp luật tạo nên ngành luật hoặc lĩnh vực pháp luật theo cách tư duy truyền thống. Thứ hai, so sánh các quy phạm, các chế định pháp luật hay các giải pháp pháp lý cho một vấn đề nào đó trong cùng một hệ thống pháp luật không thuộc về nội dung của luật so sánh.