đến tài sản có thể xảy ra nhưng tin hậu quả đó không xảy ra) hoặc vô ý vì câu thả (do câu thả không thấy trước hậu quả thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản nhưng có thé và phải thấy trước hậu quả đó). Hình phạt Điều luật quy định 02 khung hình phạt chính. Khung hình phạt cơ bản có mức phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm. Khung hình phạt tăng nặng có mức phạt cải tạo không giam giữ từ 02 năm đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm được quy định cho trường hợp phạm tội gây thiệt hại cho tài sản trị giá 500 triệu đồng trở lên.
CÂU HOI HƯỚNG DAN ON TẬP, ĐỊNH HƯỚNG THẢO LUẬN 1. Phân tích khái niệm chiếm đoạt tài sản và dấu hiệu chiếm đoạt tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt. Phân tích các dấu hiệu phân biệt hành vi chiếm đoạt tài sản là vi phạm hành chính với hành vi chiếm đoạt tài sản là tội phạm. So sánh dấu hiệu pháp lí của tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) và tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170 BLHS).
So sánh dấu hiệu pháp lí của tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS) và tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176 BLHS). So sánh dấu hiệu pháp lí của tội lừa đảo chiếm đoạt tai sản (Điều 174 BLHS) và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS). 238 CHƯƠNG V CÁC TOI XÂM PHAM CHE ĐỘ HON NHÂN VÀ GIA ĐÌNH I. NHUNG VAN DE CHUNG Gia đình Việt Nam, như Luật hôn nhân va gia đình đã khang định là gia đình kiểu mới, trong đó mọi người phải có nghĩa vụ thương yêu, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.
Hôn nhân ở Việt Nam là hôn nhân tự nguyện, tiễn bộ, một vợ, một chồng: vợ chồng bình đẳng, cùng nhau nuôi dạy con thành những công dân có ích cho xã hội. Đề bảo đảm việc thực hiện nghiêm chỉnh luật hôn nhân và gia đình, trên co sở kế thừa và sửa đổi, bố sung những quy định tại Chương XV BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 quy định “Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình” tại Chương XVII. Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình là những hành vi vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam. Thực tiễn đấu tranh chống các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình ở Việt Nam cho thấy những hành vi vi phạm luật hôn nhân và gia đình xảy ra một phần là do tàn dư tư tưởng hôn nhân và gia đình phong kiến đã ăn sâu trong tiềm 239 thức của con người.
Do đặc điểm như vậy mà đường lối xử lí những hành vi vi phạm luật hôn nhân va gia đình là kiên tri giáo dục và thuyết phục tuân thủ pháp luật, kết hợp biện pháp giáo dục với biện pháp trừng trị đối với những trường hợp vi phạm nghiêm trong. Tinh thần này được thê hiện ở những đặc điểm chung của các tội phạm thuộc nhóm tội này như sau: - Hành vi khách quan cấu thành tội phạm ở nhiều tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình khi có tình tiết nghiêm trọng liên quan đến thủ đoạn phạm tội, hậu quả của tội phạm hoặc liên quan đến đặc điểm nhân thân của chủ thể (đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà vẫn tiếp tục vi phạm). - Đối tượng được bảo vệ chủ yếu là phụ nữ và con cái mà quyên lợi của họ bị các hành vi ảnh hưởng của tàn dư tư tưởng phong kiến trọng nam, khinh nữ và gia trưởng xâm phạm. - Chủ thể của các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình có thé là chủ thé bình thường hoặc chủ thé có thêm dau hiệu đặc biệt khác.
Trong nội dung trình bày về dấu hiệu pháp lí của các tội cụ thể, dấu hiệu chủ thể của tội phạm chỉ được trình bày khi chủ thể được quy định thêm dấu hiệu đặc biệt. - Mức hình phạt được quy định cho các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình không cao. Cụ thể: Mức hình phạt tối đa 4/7 tội là không quá 03 năm tù và các tội còn lại cũng không quá 05 năm tù. Căn cứ vào khách thé trực tiếp bị xâm phạm có thể chia các tội phạm trong Chương này thành 02 nhóm: Nhóm các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và nhóm các tội xâm phạm chế độ gia đình.
Cụ thể: 240 - Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân gồm 03 tội. Đó là: Tội cưỡng ép kết hôn, li hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, can trở li hôn tự nguyện; tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng: và tội tô chức tảo hôn. Trong nhóm tội phạm này, hành vi cưỡng ép li hôn và hành vi can trở li hôn tự nguyện là hai hành vi mới được quy định trong BLHS năm 2015. Trong khi đó, tội tảo hôn và tội đăng kí kết hôn trái pháp luật đã được quy định trong BLHS năm 1999 nhưng không còn được quy định trong BLHS năm 2015.
- Các tội xâm phạm chế độ gia đình gồm 04 tội. Đó là: Tội loạn luân, tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình; tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng và tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại. Trong đó, tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại là tội mới được bố sung trong BLHS năm 2015. CAC TOI XÂM PHAM CHE ĐỘ HON NHÂN 1.
Tội cưỡng ép kết hôn, li hôn hoặc can trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, can trở li hôn tự nguyện (Điều 181 BLHS) Điều 181 BLHS quy định: “Người nào cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiễn bộ hoặc cưỡng ép hoặc cản trở người khác li hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh than, yêu sách của cải hoặc bang thủ đoạn khác, đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà con vi phạm. , 241 Tội phạm này xâm phạm nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiễn bộ - một trong những nguyên tắc cơ bản của luật hôn nhân và gia đình Việt Nam. Hành vi phạm tội đồng thời còn có thé là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng mâu thuẫn gia đình, thậm chí có thé dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng khác (như dẫn đến hành vi tự sát của nạn nhân). So với BLHS năm 1999, tội danh cũng như nội dung quy định có sự mở rộng hơn.
BLHS năm 1999 mới chỉ quy định hành vi phạm tội liên quan đến quyền kết hôn mà chưa quy định hành vi phạm tội liên quan đến quyền li hôn. BLHS năm 2015 đã quy định hành vi phạm tội liên quan đến cả hai quyền này, đảm bảo sự thống nhất giữa quyền kết hôn và quyên li hôn. Trong đó, kết hôn được hiểu là việc người nam và người nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của luật hôn nhân và gia đình; li hôn được hiểu là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Dấu hiệu pháp lí * Dầu hiệu mặt khách quan của tội phạm - Hành vi khách quan của tội cưỡng ép kết hôn, li hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiễn bộ, cản trở li hôn tự nguyện được quy định là: + Hành vi cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ; + Hành vi cản trở người khác kết hôn hợp pháp; + Hành vi cản trở người khác duy tri quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiễn bộ; + Hành vi cưỡng ép người khác li hôn hoặc 242 + Hành vi can trở người khác li hôn tự nguyện.
Cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ (còn có thé được gọi là cưỡng ép kết hôn) là buộc người khác phải lay người nao đó lam chéng hoặc lam vợ trái với su tự nguyện của họ. Can trở người khác kết hôn hợp pháp (còn có thé được gọi là cản trở kết hôn) là ngăn cản người khác không được kết hôn theo ý muốn của họ, trong khi cuộc hôn nhân đó là hoàn toàn hợp pháp. Như vậy, hành vi can trở hôn nhân sai trái (vi phạm các điều kiện kết hôn do luật định) không phải là hành vi khách quan của tội phạm này. + Hành vi cản trở người khác duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ là ngăn cản, gây khó khăn cho người khác trong việc họ tiếp tục có quan hệ hôn nhân đúng pháp luật với người khác.
+ Cưỡng ép người khác li hôn (còn có thể được gọi là cưỡng ép li hôn) là buộc người khác (một bên hoặc cả hai bên) phải thực hiện việc li hôn trái ý muốn của họ. + Can trở người khác li hôn (còn có thé được gọi là cản trở li hôn) là ngăn cản người khác (một bên hoặc cả hai bên) không được thực hiện việc li hôn mà họ muốn. - Thủ đoạn phạm tội (thủ đoạn thực hiện hành vi khách quan nêu trên) được quy định phải là một trong các thủ đoạn sau: + Hành hạ: Là hành vi đối xử tàn ác như đánh đập, gây cho họ sự đau đớn, khổ sở về thể chất, tuy chưa đến mức gây thương tích hoặc tôn hại đáng kế đến sức khoẻ của nạn nhân nhưng lại diễn ra có tính hệ thống. 243 + Ngược đãi: Là hành vi đối xử tôi tệ nhằm gây những đau khổ về tinh thần kéo dài như thường xuyên mắng chửi, sỉ vả, làm nhục, đuổi ra khỏi nhà.
+ Uy hiếp tinh thần: Là hành vi đe doạ sẽ dùng vũ lực gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, tài sản hoặc dùng uy lực đe dọa sẽ không cho hưởng lợi ích quan trọng, thiết thân nào đó, làm cho người bị đe dọa có căn cứ lo sợ thực sự. + Yêu sách của cải: Là hành vi đòi hỏi của cải như là một trong những điều kiện bắt buộc dé được kết hôn như cố tình thách cưới cao một cách không bình thường làm cho bên bị thách cưới không thể lo liệu được đề lây cớ không cho kết hôn. Cần phân biệt thủ đoạn này với tệ thách cưới thông thường là hiện tượng van còn tương đối phổ biến trong xã hội.