GIÁO TRÌNH LOGIC HỌC 55-2016/CXBIPH/107-995/CAND TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI Giáo trình LOGIC HỌC (Tái bản lần thứ năm có sửa đổi, bổsung) NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN HÀ NỘI- 2016 Người biên soạn TS. LÊ THANH THẬP LỜI GIỚI THIỆU Logic học là khoa học nghiên cứu về các hình thức và quy luật của tư duy nhằm nhận thức đúng đắn thế giới khách quan. Mon khoa hoc nay ra đời vào khoảng thế kỉ thứV - IV trước Công nguyên. Với hơn hai ngàn năm lịch sử, logic học ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò và ý nghĩa tích cực đối với sự phát triển của tu duy nhân loại, qua đó tác động đến sự phát triển của khoa học và xã hội.
Logic học cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản để hiểu biết về tư duy một cách hệ thống, sâu sắc; biết vận dụng một cách tự giác sự hiểu biết đó để điều chỉnh và rèn luyện kĩ năng tư duy. Thêm vào đó, kiến thức logic học có tính chất gợi mở cách tiếp cận, nhận thức vấn đề và xu hướng phát triển tư tưởng. Học tập, nghiên cứu logic học góp phần hình thành các phẩm chất tư duy hệ thống, đúng đắn, chặt chế và chính xác, tránh được những lôi logic. Nhận thức rõ tâm quan trọng của việc học tập, nghiên cứu logic học, nhiều trường đại học, cao đẳng trong nước và trên thế giới đã đưa môn học này vào chương trình giảng dạy; đặc biệt, trong các trường sư phạm, luật, báo chí, logic học là môn có tính chất bắt buộc.
Đáp ứng nhu câu giảng dạy, học tập của giảng viên, sinh viên nhà trường, Trường Đại học Luật Hà Nội tổ chức biên soạn giáo trình logic. Giáo trình logic học được biên soạn lần này có sự kế thừa, tiép thu các giáo trình đã xuất bản trước đây đồng thời được cập nhật, bổ sung những tri thức mới cho phù hợp với chuyên ngành đào tạo luật học hiện nay. Tuy người biên soạn đã có nhiều cố gắng nhưng giáo trình cũng khó tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định. Trường Đại học Luật Hà Nội xin chân thành cám ơn PGS.
Trần Thành - Học viện chính trị-hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, TS. Nguyễn Nhu Hải - Trường Đại học su phạm I Hà Nội, TS. Nguyễn Gia Thơ - Viện triết học Viện khoa học xã hội Việt Nam đã đóng góp ý kiến phản biện giáo trình này. Trường Đại học Luật Hà Nội xin trân trọng giới thiệu và mong nhận được sự đóng góp ý kiến của bạn đọc để giáo trình logic học ngày càng hoàn thiện hơn.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI CHUONG I ĐỐI TUONG VÀ Ý NGHĨA CUA LOGIC HỌC L THUẬT NGỮ“LOGIC” VÀ “LOGIC HỌC” 1. Thuật ngữ “logic” Logic trong tiếng Hy Lạp cổ là “logos”, nghĩa là: từ ngữ, ý nghĩ, tư tưởng, trí tuệ hoặc điều đã được nói. Trong tác phẩm của mình, Heraclite (540 - 480 tr. CN) - triết gia Hy Lạp cổ đại đã dùng “logos” để chỉ quy luật vận động của tồn tại.
Từ thuật ngữ “logos” xuất hiện thuật ngữ “logike” để chỉ ngành khoa học nghiên cứu về sự suy nghĩ đúng đắn. Sau đó, trong nhiều ngôn ngữ ở châu Âu đã xuất hiện các từ với những ý nghĩa tương đồng như “logic” (Anh), “logique” (Pháp), “logika” (Nga). Thuật ngữ “logic” trong tiếng Việt được du nhập từ phương Tây mang một số nghĩa như sau: Thứ nhất, logic khách quan là logic của thực tại khách quan - logic diễn ra bên ngoài và độc lập với quá trình tư duy của con người. Đó là mối liên hệ tất yếu giữa các sự vật, hiện tượng hoặc mối liên hệ tất yếu giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng của hiện thực khách quan.
Chẳng hạn, quan hệ logic giữa hiện tượng sóng thần và hiện tượng động đất ngoài đại dương; quan hệ logic giữa các yếu tố của lực lượng sản xuất. Thứ hai, logic chủ quan là logic của sự suy nghĩ - logic của quá trình tư duy. Logic chủ quan được sử dụng trong hai trường hợp: Mot la dùng để chỉ cách thức tư duy, đó là cách lập luận, cách suy nghĩ của chủ thể nhất định: có thể là cá nhân hoặc tang lớp, giai cấp, dân tộc hoặc thậm chí, của cả thời đại. Chẳng hạn, khi có người nói: “đó là logic của anh còn logic cua tôi là.” hoặc “øiai cấp bóc lột thường lập luận theo logic, đã bỏ tiền ra thuê thì có quyền sử dụng tối đa sức lao động của người mà họ đã thuê”.
Hai là chỉ quá trình tư duy tuân theo những quy tắc nhất định, chặt chẽ, phản ánh đúng đắn logic khách quan. Vi du, lập luận sau là lập luận hợp logic: “Nếu quyền con người không được bảo đảm thì xã hội sé không có tự do; vì vậy, nếu xã hội có tự do thì quyền con người phải được bảo đảm”. Thứ ba, logic được dùng với nghĩa logic học như trong trường hợp V. Lênin viết: “Trong logic cũ không có chuyển hoá, không có phát triển (của những khái niệm và của tư duy), không có “liên hệ bên trong, tất yếu” của tất cả các bộ phận và không có “sự chuyển hod” của cái này thành cái kia’.
Lênin đề cập trong trích dẫn trên đây là logic học cổ điển của Aristotle. Thuật ngữ “logic học” Logic học, theo truyền thống vẫn được hiểu và nghiên cứu như một nhánh của triết học. Từ giữa thế ki XIX, logic học đã được nghiên cứu trong toán học và luật học; đến những năm cuối của thế kỉ XX logic học được áp dụng vào phát triển trí tuệ nhân tạo là thứ ngôn ngữ dùng cho máy tính. Mặc dù tầm bao quát và ứng dụng của logic học ngày càng mở rộng nhưng đối tượng, nhiệm vụ (1).
Lénin toàn tập, Tập 29, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1981, tr. 8 của nó, về cơ bản đã được xác định. Lênin, logic học là khoa học nghiên cứu về “sự phát triển của tư duy trong tính tất yếu của no”.
Tính tất yếu của tư duy là mối liên hệ ban chất, phổ biến giữa các tư tưởng trong quá trình tư duy làm nền tảng cho các thao tác logic; bảo đảm tính tất yếu là điều kiện cần để quá trình tư duy phù hợp với khách thể phản ánh. Với cách định nghĩa đó, VI. Lénin đã chỉ rõ nội dung, nhiệm vụ cơ bản của logic học. Tư duy là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều ngành khoa học như: tâm lí học, xã hội học, giáo dục học, điều khiển học, sinh lí học thần kinh cao cấp v.
trong đó, mỗi ngành nghiên cứu một khía cạnh của tư duy. Chẳng hạn, tâm lí học nghiên cứu tư duy như hiện tượng tâm lí; điều khiển học nghiên cứu kết cấu tư duy để mô phỏng theo, tạo ra trí tuệ nhân tạo; sinh lí học thần kinh cao cấp nghiên cứu cơ chế hoạt động của hệ thần kinh con người với tư cách là nên tảng vật chất của quá trình tư duy. Logic học nghiên cứu về tư duy với tư cách là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, theo Ph. Hêghen (1770-1831), đó là quá trình tư duy “tự phản tư” về mình.
Khái quát đối tượng và mục đích nghiên cứu có thể định nghĩa: Logic học là môn khoa học nghiên cứu về các hình thức và quy luật tư duy nhằm nhận thức đúng đắn thế giới hiện thực khách quan. TUDUY VA TUDUY LOGIC 1. Tu duy Quá trình nhận thức gồm hai giai đoạn: nhận thức cam tính va nhận thức lí tính. Tư duy là giai đoạn nhận thức lí tính (còn được gọi là tư duy trừu tượng), dựa vào những tài liệu thu nhận được ở (1).Xem: Sdd, tr.
giai đoạn nhận thức cảm tính, trong đầu óc con người nảy sinh các hoạt động: phân tích, so sánh, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá. rút ra những thuộc tính chung, bản chất của đối tượng phan ánh hình thành nên khái niệm. Sự liên kết giữa các khái niệm để khẳng định hoặc phủ định vấn đề nào đó của đối tượng nhận thức là phán đoán. Từ những phán đoán đã có rút ra phán đoán mới là suy luận.
Khái niệm, phán đoán, suy luận là các hình thức tư duy. Như vậy, tư duy là trình độ cao của quá trình nhận thức, là sự phản ánh khái quát, gián tiếp, tích cực và sáng tạo về thế giới. Tư duy là sự phản ánh, xét về bản chất, đó là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”. Tư duy là phi vật chất nhưng nó phụ thuộc vào bộ não, cái vật chất chứa đựng nó.
Angghen nói: “Nếu người ta đặt câu hỏi rằng tư duy và ý thức là gì, chúng từ đâu đến, thì người ta sẽ thấy rằng chúng là sản vật của bộ óc người và bản thân con người”.") Yếu tố sinh học - quá trình sinh lí của bộ não người là yếu tố cơ bản của tư duy nhưng yếu tố xã hội lại là yếu tố có tính chất quyết định. Như vậy, tư duy là sản phẩm của xã hội xét cả về nguồn gốc lẫn phương thức hoạt động và kết quả của nó. Bởi vì, tư duy chỉ tồn tại trong mối liên hệ không thể tách rời khỏi hoạt động lao động và ngôn ngữ là hoạt động mang tính đặc trưng của con người. Tư duy phản ánh khái quát hiện thực khách quan là khả năng con người xây dựng được các khái niệm và liên kết các khái niệm, phát hiện ra các quy luật tương ứng của hiện thực.
Khi xây dựng khái niệm, liên kết các khái niệm, khám phá phát hiện quy luật, tư duy đã trừu tượng đi những dấu hiệu ngẫu nhiên, không bản chất (1). Angghen toàn tập, tập 20, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr. 10 phản ánh những dấu hiệu chung và bản chất của sự vật, hiện tượng của hiện thực.
Tư duy phản ánh hiện thực khách quan một cách gián tiếp là sự phản ánh thông qua giai đoạn nhận thức cảm tính. Thêm vào đó là khả năng duy lí, từ những tri thức đã có ta rút ra những tri thức mới. Đồng thời, tính gián tiếp của tư duy còn được thể hiện thông qua hình thức tồn tại và hiện thực trực tiếp của nó là hệ thống ngôn ngữ mang tính vật chất. Tính tích cực của tư duy trong quá trình phản ánh hiện thực khách quan thể hiện ở chỗ tư duy vượt lên nhận thức cảm tính, tự nó xây dựng nên hệ thống các tri thức về hiện thực khách quan trong tính toàn vẹn đầy đủ, tiến tới phản ánh bản chất của sự vật.
Quá trình tư duy chỉ diễn ra khi xuất hiện vấn đề và để vấn đề trở thành tình huống có vấn đề của tư duy, đòi hỏi chủ thể phải có nhu cầu, mong muốn giải quyết vấn đề đó.