Giáo Trình Lịch Sử Việt Nam: Từ Thời Nguyên Thủy Đến Đầu Thế Kỷ X

Giáo trình nghiên cứu lịch sử việt nam tập 1 từ nguyên thủy đến đầu thế kỉ x nxb đại học sư phạm 2013 nguyễn cảnh minh, trình bày lý thuyết rõ ràng, minh họa ví dụ thực tế, phù

Chuyên ngành

Lịch Sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo Trình

2023

214
4
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Thời Kỳ Nguyên Thủy Nền Tảng Của Nền Văn Minh Việt

Thời kỳ nguyên thủy Việt Nam kéo dài từ khoảng 500.000 năm trước Công nguyên. Giai đoạn này chứng kiến sự phát triển từ con người sơ khai đến xã hội nông nghiệp. Các cộng đồng người cổ đại dần dần hình thành nên những dân tộc Việt ban đầu. Giáo dục lịch sử giai đoạn này giúp hiểu rõ nguồn gốc văn hóa Việt Nam độc đáo.

1.1. Giai Đoạn Đá Cũ và Đá Mới

Thời đại đá cũ (Paleolithic) để lại những dấu tích tại các di chỉ Sơn Vi, Bắc Sơn. Thời đại đá mới (Neolithic) chứng kiến sự ra đời của nông nghiệp, chăn nuôi và những kỹ thuật gốm sơ khai. Các công cụ bằng đá mài cho thấy khả năng thích nghi và phát triển công nghệ của người Việt cổ xưa.

1.2. Sự Hình Thành Các Cộng Đồng Đầu Tiên

Những cộng đồng người cổ dần tập trung quanh sông Hồng và sông Mê Kông. Họ phát triển những kỹ năng trồng trọt, nuôi gia súc và xây dựng những công trình thủy lợi sơ khai. Quá trình này tạo nên cơ sở cho sự phát triển của xã hội Việt Nam cổ đại.

II. Thời Kỳ Đồng Sự Phát Triển Của Văn Minh Đông Nam Á

Thời kỳ đồng (khoảng 2000-500 trước Công nguyên) đánh dấu bước phát triển vượt bậc trong lịch sử Việt Nam. Sự xuất hiện của kim loại, đặc biệt là đồng, tạo ra những công cụ hiệu quả hơn và những vũ khí mạnh mẽ. Giai đoạn này chứng kiến sự hình thành những vương quốc sơ khai và tổ chức xã hội phức tạp hơn.

2.1. Công Nghệ Đồng và Ứng Dụng Thực Tiễn

Người Việt cổ đã áp dụng công nghệ đồng để sản xuất công cụ nông nghiệp, vũ khí chiến đấu và các vật dụng tôn giáo. Những chiếc trống đồng Đông Sơn nổi tiếng thế giới là minh chứng của kỹ thuật chế tác cao siêu. Đây là biểu tượng của sự thịnh vượng và quyền lực trong xã hội Việt Nam thời kỳ đó.

2.2. Tổ Chức Xã Hội và Quyền Lực Chính Trị

Sự phân hóa giai cấp rõ rệt xuất hiện trong xã hội thời đồng, phân chia thành những tầng lớp quý tộc, chiến binh và nông dân. Những đô thị sơ khai và các trung tâm quyền lực hình thành. Hệ thống tổ chức hành chính ban đầu được thiết lập để quản lý những vùng lãnh thổ ngày càng rộng lớn.

III. Thời Kỳ Sơ Sử Các Vương Quốc Tiền Lịch Sử

Giai đoạn sơ sử Việt Nam (khoảng 2879-111 trước Công nguyên) bao gồm các vương quốc huyền thoại như Hồng Bàng. Giáo trình lịch sử học này tập trung vào các truyền thuyết về các vua Hùng và sự phát triển của quốc gia Văn Lang. Đây là nền tảng của sự hình thành dân tộc Việt và nhà nước Việt cổ.

3.1. Nhà Hùng và Quốc Gia Văn Lang

Theo truyền thuyết, các vua Hùng cai trị Văn Lang từ năm 2879 đến 258 trước Công nguyên. Văn Lang là quốc gia đầu tiên của người Việt, với trung tâm ở vùng sông Hồng. Nền văn minh Văn Lang đặc trưng bởi nông nghiệp lúa nước, chế độ phong kiến sơ khai và tổ chức xã hội dựa trên bộ lạc.

3.2. Quốc Gia Âu Lạc và Tần Thủy Hoàng

Năm 258 trước Công nguyên, Âu Cơ thành lập Âu Lạc sau khi chinh phục Văn Lang. Âu Lạc là nước tiếp theo trong lịch sử Việt Nam, với nền tảng kinh tế mạnh mẽ. Tuy nhiên, năm 111 trước Công nguyên, nhà Tần dưới thời Tần Thủy Hoàng đã chinh phục Âu Lạc, đưa Việt Nam vào thời kỳ chiếm đóng của Trung Quốc.

IV. Giai Đoạn Tiền Bức Phá Sự Chuẩn Bị Cho Thế Kỷ X

Từ thế kỷ III đến IX, Việt Nam trải qua những biến đổi lớn. Mặc dù dưới sự chiếm đóng của các chế độ phương Đông, nền văn minh Việt vẫn phát triển. Giáo trình lịch sử giai đoạn này nhấn mạnh sự bảo tồn và phát triển đặc sắc văn hóa, tín ngưỡng và ngôn ngữ Việt. Những điều kiện này tạo tiền đề cho sự độc lập vào đầu thế kỷ X.

4.1. Những Cuộc Khởi Nghĩa và Kháng Chiến

Trong suốt giai đoạn chiếm đóng, nhiều cuộc khởi nghĩa nổi lên như Bà Triệu, Khúc Thừa Dụ. Các cuộc nổi dậy này phản ánh sự chống cự của nhân dân Việt. Mặc dù không thành công ngay lập tức, những cuộc khởi nghĩa này giữ gìn khí thế độc lập và lòng tự hào dân tộc.

4.2. Chuẩn Bị Cho Sự Độc Lập Năm 938

Thế kỷ X chứng kiến những thay đổi trong cấu trúc quyền lực của Trung Quốc. Việt Nam dần dần tự chủ trong quản lý nội bộ. Những nhân vật như Ngô Quyền chuẩn bị điều kiện để giành lại độc lập. Chiến thắng tại Bạch Đằng năm 938 đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử Việt Nam.

13/07/2025
Giáo trình lịch sử việt nam tập 1 từ nguyên thủy đến đầu thế kỉ x nxb đại học sư phạm 2013 nguyễn cảnh minh 214 trang

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu là văn hoá Hoà Bình - Bắc Sơn. CƯ DÂN HOÀ BÌNH BẮC SƠN - CHỦ NHÂN VĂN HOÁ ĐÁ MỚI SƠ KÌ Ở VIỆT NAM 1. Cư dân Hoà Bình”) Dựa vào sự phân bố các đi tích thuộc văn hoá Hoà Bình cho thấy cư dân bấy giờ đã mở rộng địa bàn sinh sống đến nhiều địa phương hơn người Sơn Vì. Tại các tỉnh Hoà Bình, Hà Tây, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, ® Hoà Bình là địa điểm đầu tiên phát hiện được di tích văn hoá sơ kì đá mới, cách ngày nay khoảng 17.500 năm, tập trung cao ở 12.

Một di tích thuộc văn hoá Hoà Bình là Hang Chùa (Tân Kì, Nghệ An) có niên đại C!* là 9.200 năm cách ngày nay. Hang Đắng (thuộc khu vực vườn Quốc gia Cúc Phương có niên đại C'*là 7.580 năm + 80 năm cách ngày nay. Văn hoá Hoà Bình phân bố trên một khu vực khá rộng ở Đông Nam Á, tập trung nhiều nhất là ở Việt Nam (Lich sw Viét Nam đại cương, tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000, tr. 19 Quang Trị, Quảng Ninh, Lai Châu, Sơn La, Thái Nguyên, Hà Nam, Ninh Bình đều phát hiện được các di tích văn hoá Hoà Bình, nhưng tập trung nhiều nhất là ở Hoà Bình, Thanh Hoá.

Người Hoà Bình sống chủ yếu trong các hang động, mái đá thuộc các thung lũng đá vôi, gần nguồn nước. Nơi cư trú của người Hoà Bình được phân bố thành từng cụm, có từ 3 đến 10 hang bao quanh thung lũng, có sông, suối chảy qua. Trong nhiều hang động, có tầng văn hoá khá dày, gồm nhiều hiện vật và phế thải. Ở mái đá làng Bon (Thanh Hoá) có tới 93.378 hiện vật nằm trong tầng văn hoá dày tới 3,7m.

Điều đó cho thấy, người Hoà Bình đã cư trú lâu dài trong các hang động. Mỗi cụm cư trú có lẽ là một thị tộc gầm một số gia đình theo huyết thống tụ cư trên một địa bàn chung. Có thể là công xã thị tộc mẫu hệ ở vào giai đoạn văn hoá đá mới sơ kì ở Việt Nam. Trong mỗi công xã thị tộc như vậy, mọi sản vật và đất đai trong phạm vị địa bàn cư trú đều là sở hữu chung của thị tộc.

Công cụ lao động của người Hoà Bình có nhiều loại hình phong phú, đa dạng hơn người Sơn Vi, được làm từ nhiều nguyên liệu khác nhau như đá, xương, sừng. chủ yếu bằng đá cuội. Người Hoà Bình lấy đá cuội ở các bờ sông, suối để chế tác công cụ tại chỗ, nơi có nguồn nguyên liệu vô cùng phong phú. Họ còn mang đá cuội về nơi ở để chế tác công cụ.

Một số mảnh tước và phế liệu bằng đá cuội tại các hang cho thấy điều đó. Phương pháp chế tác công cụ đá của người Hoà Bình cũng giống như người Sơn Vị là phương pháp ghè, đẽo trực tiếp, dùng hòn cuội đập mạnh, nhiều lần vào hòn cuội khác. Công cụ thường được ghè đếo một mặt, mặt còn lại giữ nguyên mặt cuội tự nhiên. Đã có một số công cụ được ghè đẽo cả hai mặt, nhưng loại công cụ này không nhiều.

Đặc trưng công cụ lao động bằng đá của người Hoà Bình là những công cụ đá cuội được ghè đếo một mặt như rìu ngắn, nạo hình đĩa, rìu hạnh nhân, rìu bầu dục. Đặc trưng kĩ thuật chế tác công cụ đá như trên chứng minh bước tiến bộ của cư dân bấy giờ so với người Sơn Vi. Cũng cần biết rằng, trong các hang động, nơi cư trú của người Hoà Bình còn thấy một số công cụ đá thô sơ thời Sơn Vị. Điều đó cho thấy, không còn nghi ngờ gì nữa, văn hoá Hoà Bình bắt nguồn từ văn hoá Sơn Vi và có bước phá triển cao hơn, từ ghè đẽo đã bước đầu biết đến kĩ thuật mài đá ® Nguyễn Khắc Sử, Khảo cổ học, số 8 — 1996, tr.

20 trong ché tac céng cu”. Ngoai céng cụ bằng đá, các nhà khảo cổ còn tìm thấy một số công cụ được làm ra từ các nguyên liệu khác như tre, gỗ, xương”, Các loại hình công cụ của cư dân Hoà Bình như trên cho thấy hoạt động kinh tế chủ yếu của họ vẫn là săn bắt, hái lượm, nhưng được đẩy mạnh hơn. Trong các di tích văn hoá Hoà Bình có zất nhiều loại xương động vật khác nhau. Ở đi tích hang Chùa (Nghệ An), trong tổng số các loại xương thú có 24% xương trâu bò rừng, 46% xương hươu, nai, 9% xương lợn rừng, 5% xương khi, 2% xương tê giác và nhiều vỏ động vật thân mềm sống ở sông, suối”, Hầu hết các dì tích văn hoá Hoà Bình đều có rất nhiều vỏ ốc.

Người Hoà Bình cũng đã biết sử dụng các loại hạt, củ bổ sung cho nguồn lương thực. Tại một số đi tích văn hoá Hoà Bình như hang Sũng Sam (Hoà Bình), hang Thẩm Khương (Lai Châu). các nhà khảo cổ học phát hiện được phấn hoa họ rau đậu (bằng phương pháp phân tích bào tử phấn hoa). Như vậy, có nhiều khả năng, người Hoà Bình đã biết trồng trọt các loại rau, cây cho củ, cây ăn quả.

Nông nghiệp sơ khai đã được ra đời. , Cuộc sống chủ yếu tuy vẫn dựa vào hoạt động chính là săn bắt, hái lượm, những sự ra đời của nông nghiệp sơ khai đã đánh dấu bước chuyển biến mới của cư dân văn hoá đá mới sơ kì ở nước ta. Cuộc sống của cư dân Hoà Bình có bước nâng cao hơn cư dân văn hoá Sơn Vi còn được thể hiện trong đời sống tỉnh thần. Họ đã biết chế tạo ra đồ trang sức từ vỏ ốc biển được mài nhẫn, có xuyên lỗ để xâu dây đeo.

Có những dấu hiệu về hoạt động nghệ thuật phong phú, như các hình khắc mặt con thú loài ăn cổ và 3 hình mặt rmmgười có sừng lên đá (trong hang Đồng Nội, Hoà Bình), viên cuội có vết khắc (di tích làng Bon, Yên Lạc). Những vạch khắc thành ® Một số công cụ bằng đá phát hiện được ở các di tích văn hoá Hoà Bình như đi tích xóm Trại, hang Làng Vành cho thấy đã có kĩ thuật mài ở lưỡi công cụ. Một số loại hình công cụ khác bằng đá cũng có mặt trong các di tích Hoà Bình như rìu có lưỡi ở một đầu, rìu có bể ngang lớn hơn bề mặt đọc gọi là rìu ngắn, chày nghiền hạt, những viên cuội dài, do nghiền hạt, bị mài phẳng một đầu hay cả hai đầu (Lịch sử Việt Nam, tập 1. NXB Đại học và THƠN, Hà Nội, 1991, tr.

® Có ý kiến cho rằng người Hoà Bình đã biết đến kĩ thuật làm đồ gốm ở giai đoạn nguyên thuỷ với kĩ thuật nặn bằng tay và nung trên mặt đất, chưa có lò nung. ® Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập 1, NXB Giáo dục, 2000, tr. 21 nhóm 3 vạch, có những mảnh xương nhọn có vết khắc, những viên cuội có hình nhiều lỗ tròn nhỏ phân bế đều thành những vòng tròn đồng tâm, có nhiều ngôi mộ xác chết được bôi thổ hoàng. Người Hòa Bình có phong tục chôn người chết ở nơi cư trú.

Ở các di tích văn hóa Hòa Bình như hang Thẩm Hai, hang Chù (Nghệ An), hang Đắng (thuộc vườn hoa quốc gia Cúc Phương), hang làng Gạo (Hòa Bình) có hiện tượng xác chết được chôn theo tư thế nằm co, xung quanh xếp nhiều hòn đá lớn cùng với công cụ bằng đá, hoặc người chết được chôn theo tư thế nằm co, xác chết có bôi thổ hoàng. Người chết được chôn ngay tại nơi cư trú trong hang, có nơi gần bếp lửa, cũng có mộ chôn theo cả đồ trang sức bằng vỏ ốc biển, răng thú. Những hiện tượng trên có thể là sự phản ánh quan niệm của người Hòa Bình về mối quan hệ ràng buộc giữa người đang sống và người đã chết. Cư dân Bắc Sơn?? Nối tiếp văn hoá Hòa Bình là văn hóa Bắc Sơn.

Đây là uăn hóa sơ bì đá mới có gốm ö Việt Nam. Từ khoảng trên dưới 1 vạn năm cách ngày nay, cư dân Hoà Bình đã tạo nên văn hóa Bắc Sơn từ trong quá trình phát triển của họ. Nhiều di tích văn hóa Bắc Sơn tìm thấy ở vùng phân bố của văn hóa Hoà Bình như ở Hoà Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Quảng Bình, Quảng Trị. nhưng chủ yếu ở Lạng Sơn, Thái Nguyên.

Nhiều hiện vật văn hóa Bắc Sơn được phát hiện tạo thành lớp trên của văn hóa Hòa Bình trong cùng một di tích. Có thể nói, chủ nhân văn hóa Bắc Sơn là hậu duệ của chủ nhân văn hóa Hòa Bình. Nhìn vào sự phân bố các di tích văn hóa Bắc Sơn cho thấy địa bàn cư trú của cư dân Bắc Sơn được mở rộng hơn, đến vùng sơn khối đá vôi phía Đông Bắc nước ta. Họ sống trong các hang động và mái đá, chung quanh có nhiều sông, suối chảy qua.

® Dị tích văn hóa Bắc Sơn thuộc tỉnh Lạng Sơn, nơi đầu tiên phát hiện được những đi tích văn hóa sơ kì thời đại đá mới có niên đại kế tiếp sau văn hóa Hòa Bình, cách ngày nay khoảng từ 1 vạn — 8. Hang Bò Lúm (Lạng Sơn) có niên đại C!! là 10.295 năm + 200 năm cách ngày nay. Tính đến năm 1997, đã phát hiện được 51 địa điểm thuộc văn hóa Bắc Sơn, trong đó 8 địa điểm có di cốt người (Nguyễn Lân Cường, Khẻo cổ học, số 3 — 1998, tr. Di vat van hod Bắc Sơn tại hang Thẩm Khoách, Phố Bình Gia, Lang Sơn.

Rùi đá tứ giác; 3. Mảnh vòng vỏ ốc; 4. Rầu đá mài lưỡi; 7,8, 9, 10, 11. ("Những hiện vật tàng trữ tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam về văn hoá Bắc Sơn, Hà Nội, 1969) 23 Công cụ của người Bắc Sơn cũng làm bằng đá cuội, nhưng tiến bộ hơn kĩ thuật chế tác công cụ đá của người Hoà Bình.

Họ không chỉ biết ghè, déo ma đã biết sử dụng phổ biến kĩ thuật mài đá. Bên cạnh những công cụ đá được ghè đẽo một mặt như kiểu Hoà Bình, đã có thêm những chiếc rìu đá có mài ở lưỡi. Rìu mài ở lưỡi khá phổ biến trong các di tích văn hoá Bắc Sơn. Đây là công cụ đặc trưng cho văn hoá Bắc Sơn - rìu Bắc Sơn.

Kĩ thuật mài của người Bắc Sơn thường là chọn những hòn cuội dẹt, dài, déo qua loa trên hai cạnh và lưỡi rồi đem mài trên một bàn mài sa thạch, tạo nên một lưỡi bằng phẳng và sắc, hoặc bàn mài lõm lòng chảo, bàn mài bằng phiến đá có hai rãnh song song, giữa hai rãnh là phần cong, nổi lên. Loại bàn mài này có lẽ người Bắc Sơn dùng để mài những vật có lưỡi vạm như chiếc đục vụm. Với những chiếc bàn mài như trên, cư dân bấy giờ đã làm ra được những công cụ bằng xương, vỏ sò.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ