Chương 1 ĐỐI TƯỢNG, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP CỦA MÔN HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 1. Đối tượng nghiên cứu của môn học Lịch sử Đảng Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam là một môn học, có đối tượng nghiên cứu là những quy luật về sự ra đời, phát triển của Đảng và những quy luật về hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng của Đảng qua các thời kỳ, giai đoạn cách mạng. Thể hiện trên các vấn đề cơ bản sau: Một là, môn học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam nghiên cứu nhóm quy luật về sự ra đời, phát triển, trưởng thành của Đảng, (nghiên cứu về bản thân Đảng). Nhóm quy luật này đòi hỏi phải làm rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là tất yếu khách quan do nhu cầu đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp phát triển đến độ chín muồi đòi hỏi phải có Đảng lãnh đạo; làm rõ quy luật ra đời của Đảng, đó là sản phẩm của sự kết hợp lý luận Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.
Quy luật đó vừa phản ánh quy luật chung về sự ra đời của các đảng cộng sản trên thế giới, vừa phản ánh tính đặc thù về sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ở nước thuộc địa nửa phong kiến. Hai là, nghiên cứu làm rõ quy luật xây dựng và phát triển của Đảng qua các thời kỳ lịch sử. Đó là quy luật xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, xây dựng bản chất giai cấp công nhân của Đảng, mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng đảng viên, quy luật đấu tranh tự phê bình và phê bình trong Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ… Ba là, môn học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam nghiên cứu nhóm quy luật về hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng của Đảng. Nhóm quy luật này yêu cầu làm rõ nội dung lãnh đạo của Đảng; con đường, biện pháp Đảng lãnh đạo giành thắng lợi một cách nhanh nhất, có lợi nhất, đỡ tốn kém nhất.
Đó là những vấn đề có tính quy luật về nghệ thuật lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng của Đảng qua mỗi thời kỳ, giai đoạn cách mạng. Tuy nhiên trong xác định đối tượng môn học cần phân biệt rõ ranh giới lịch sử Đảng với lịch sử dân tộc, lịch sử quân sự. Mặc dù giữa chúng có mối 5 liên hệ với nhau, nhưng môn học lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam có đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu riêng của mình, không trùng lặp với các chuyên ngành khác trong khoa học lịch sử. Vì vậy, cần nắm vững đối tượng nghiên cứu của từng chuyên ngành lịch sử thì mới lựa chọn được nội dung hợp lý, đồng thời làm cơ sở mở rộng nghiên cứu sang các lĩnh vực khác thuộc ngành lịch sử, để hỗ trợ cho việc nghiên cứu, học tập hiệu quả hơn.
Chức năng, nhiệm vụ của môn học Lịch sử Đảng 2. Chức năng của môn học Lịch sử Đảng a) Chức năng nhận thức Chức năng nhận thức của môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam được biểu hiện như sau: - Tái hiện, miêu tả, giải thích hiện thực lịch sử một cách khách quan, khoa học, phục vụ xã hội, con người. Qua đó, giúp cho mỗi người ngày càng nhận thức sâu sắc hơn về đường lối, chủ trương của Đảng, về những khái niệm, phạm trù, quy luật về sự phát triển của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. - Thông qua nghiên cứu, học tập lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam còn giúp người học nhận rõ xu hướng vận động, phát triển của cách mạng Việt Nam và xã hội Việt Nam.
Học lịch sử Đảng không những giúp người học nhận thức được quá khứ, mà còn giúp hiểu được hiện tại và dự đoán được tương lai.Lênin đã chỉ rõ: "Khi xem xét bất cứ một hiện tượng xã hội nào trong quá trình phát triển của nó, thì bao giờ người ta cũng tìm thấy trong đó vết tích của quá khứ, những cơ sở của hiện tại và những mầm mống của tương lai" 1. b) Chức năng giáo dục Thực hiện tốt chức năng nhận thức là cơ sở thực hiện chức năng giáo dục. Vấn đề bao trùm, nổi bật chức năng giáo dục của môn học Lịch sử Đảng là giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, định hướng hành động đúng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, 1 V.Lênin, Toàn tập, tập 1, Nxb Tiến bộ, 1974, tr. 6 phục vụ các nhiệm vụ chính trị trước mắt và lâu dài.
Nội dung giáo dục bao gồm những vấn đề cơ bản sau: - Giáo dục nâng cao sự giác ngộ sâu sắc về mục tiêu cách mạng, lý tưởng của Đảng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân là vấn đề quan trọng hàng đầu trong giáo dục chính trị, tư tưởng; làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự là nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng, của xã hội Việt Nam. - Giáo dục chủ nghĩa yêu nước chân chính, chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa, chống chủ nghĩa dân tộc cực đoan, sô vanh nước lớn; không ngừng giáo dục chủ nghĩa yêu nước truyền thống, chủ nghĩa yêu nước thời đại Hồ Chí Minh, giáo dục lịch sử, truyền thống cách mạng vẻ vang của Đảng, của dân tộc Việt Nam. - Giáo dục đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước qua các thời kỳ, giai đoạn cách mạng, góp phần nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa, giữ vững phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, xây dựng niềm tin tuyệt đối của quần chúng vào Đảng, vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, làm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân nêu cao ý chí quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Nhiệm vụ của môn học lịch sử Đảng a) Trình bày đường lối cách mạng của Đảng qua các thời kỳ, giai đoạn cách mạng Đây là nhiệm vụ đầu tiên, nhiệm vụ quan trọng nhất của môn học Lịch sử Đảng.
Đảng lãnh đạo cách mạng trước hết bằng đường lối, chủ trương, chính sách lớn. Hoạch định đường lối là nội dung căn bản nhất trong hoạt động lãnh đạo của Đảng, bảo đảm cho Đảng giữ vững vai trò lãnh đạo, đưa cách mạng tiến lên. Yêu cầu trình bày nhiệm vụ này phải khách quan, khoa học, cần làm rõ những nội dung chủ yếu sau: - Trình bày hoàn cảnh lịch sử hình thành đường lối của Đảng trong từng thời kỳ, giai đoạn cách mạng. 7 Trình bày hoàn cảnh lịch sử là dựng lại bức tranh chân thật của lịch sử; đi sâu làm rõ tình hình, đặc điểm có liên quan, chi phối đến sự hình thành đường lối của Đảng.
Trình bày hoàn cảnh lịch sử là làm rõ căn cứ thực tiễn để Đảng vận dụng sáng tạo lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kinh nghiệm thế giới vào hoàn cảnh cụ thể Việt Nam để định ra đường lối, chủ trương, chính sách trong mỗi thời kỳ, giai đoạn cách mạng cho phù hợp. - Trình bày quá trình hình thành, phát triển, hoàn thiện đường lối. Đường lối của Đảng không phải ngay từ đầu đã đầy đủ và hoàn chỉnh, đường lối đó phải có quá trình hình thành, từng bước được bổ sung, phát triển đi đến hoàn thiện qua chỉ đạo thực tiễn. Đường lối ban đầu của Đảng có thể đúng trên những vấn đề cơ bản, sau đó tiếp tục phát triển và ngày càng hoàn thiện.
Nhưng cũng có trường hợp đường lối ban đầu đúng, nhưng phải qua một thời gian dài mới được kiểm chứng, phát triển đi lên; có những điểm trong đường lối ban đầu đúng, nhưng sau này không thừa kế được. Qua tổ chức thực tiễn, tổng kết thực tiễn, đường lối đó dần được bổ sung, phát triển đi đến hoàn chỉnh. Thực tiễn cho thấy đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân được hình thành từ Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng (3-2-1930); đến Luận cương chính trị (tháng 10-1930) và các Nghị quyết Trung ương 6 (11-1939), Trung ương 7 (11-1940), Trung ương 8 (5-1941) bổ sung; đến Đại hội II (2-1951) mới hoàn chỉnh. Các đường lối cụ thể khác của Đảng cũng diễn ra quá trình hình thành, phát triển, từ chưa hoàn chỉnh đến hoàn chỉnh.
- Trình bày Đảng tổ chức thực hiện đường lối (hay còn gọi là tổ chức thực tiễn). Quá trình tổ chức thực tiễn, biến đường lối thành hiện thực bao gồm nhiều công đoạn xen kẽ lẫn nhau như công tác tư tưởng, công tác tổ chức, phát động các phong trào quần chúng. Đảng lãnh đạo toàn diện các mặt của đời sống kinh tế, xã hội. Đảng lãnh đạo, Nhà nước cụ thể hoá đường lối bằng pháp luật, chủ trương, chính sách cụ thể.
Đảng không bao biện, làm thay Nhà nước. Đảng ta là Đảng cầm quyền, thực hiện sự kiểm tra của mình đối với Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội, qua đó kịp thời phát hiện, uốn nắm những lệch 8 lạc, phát hiện những nhân tố mới, những kinh nghiệm mới bổ sung và hoàn chỉnh đường lối. b) Trình bày phong trào cách mạng của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng Trong tiến trình cách mạng nếu chỉ một mình đội tiền phong của giai cấp công nhân không thể hoàn thành được nhiệm vụ của đội tiền phong. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, Đảng phải biết tổ chức, phát động đông đảo quần chúng đứng lên đấu tranh theo mục tiêu, lý tưởng của Đảng.
Đồng thời, Đảng nhận thức rõ vai trò quần chúng nhân dân trong lịch sử, luôn quán triệt quan điểm "lấy dân làm gốc" trong mọi hoạt động lãnh đạo của mình. Sức mạnh của quần chúng nhân dân chỉ được phát huy khi quần chúng được tổ chức lại, được giáo dục và có sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng. Nếu không được tổ chức lại thì quần chúng dù là đông đến đâu cũng không thể phát huy được sức mạnh. Trình bày phong trào cách mạng của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng gồm những vấn đề sau đây: - Trình bày quá trình Đảng đã vận động, tuyên truyền, giáo dục và tổ chức quần chúng thông qua việc đề ra nhiệm vụ, mục tiêu đấu tranh sát hợp với nguyện vọng, khả năng của quần chúng với nhiều hình thức tổ chức phong phú, đa dạng phù hợp với tình hình trong mỗi thời kỳ, giai đoạn lịch sử.
- Trình bày phong trào cách mạng quần chúng đúng với hoàn cảnh lịch sử diễn ra đi từ thấp đến cao, có khi đạt tới cao trào cách mạng, nhưng cũng có lúc tổn thất, mất mát, thậm chí có khi thoái trào, nhưng cuối cùng sẽ đi đến thắng lợi hoàn toàn.